LINK POST TRUTHLADY3.BLOGSPOT



LINK POST TRUTHLADY3.BLOGSPOT
http://truthlady3.blogspot.com/2016/11/link-post-truthlady3blogspot.html

goosee
The Sound of Silence

Sunday, April 8, 2018

Động Mạch Vành


Động Mạch Vành

Động mạch vành là hệ thống mạch máu có chức năng cấp máu, ôxy và chất dinh dưỡng nuôi dưỡng quả tim. Tuần hoàn động mạch vành là tuần hoàn dinh dưỡng tim. Mỗi quả tim của chúng ta có hai động mạch vành: Động mạch vành phải và động mạch vành trái, các động mạch vành này xuất phát từ gốc động mạch chủ qua các trung gian là các xoang Valsalva và chạy trên bề mặt quả tim.



Động Mạch Vành
Động Mạch Vành
Động mạch vành trái là gì?
Động mạch vành trái xuất phát từ lỗ vành trái, kích thước lỗ vành trái khoảng 3 – 5mm, nằm ở 1/3 trên của xoang Valsalva trái, rồi chạy giữa thân động mạch phổi và nhĩ trái, đoạn động mạch này gọi là thân chung động mạch vành trái. Sau đó nó chia ra thành 2 nhánh: động mạch liên thất trước và động mạch mũ. Động mạch liên thất trước cấp máu cho 45 – 55% thất trái, động mạch mũ cấp máu cho 15 - 25% thất trái.
Động mạch vành phải là gì?
Động mạch vành phải xuất phát từ lỗ động mạch vành phải trong xoang Valsalva phải, chạy vòng sang phải trong rãnh nhĩ – thất phải để ra sau, chia ra thành hai nhánh tận: nhánh liên thất sau và nhánh sau thất trái. Động mạch vành phải cấp máu cho thất phải và 25 – 35% thất trái.
Tổng quan về các động mạch vành
Các động mạch vành là các mạch tận, mỗi một nhánh cấp máu cho một vùng. Về mặt đại thể tuần hoàn vành không có vòng nối, tuy nhiên luôn tồn tại vòng nối giữa các nhánh của một thân hoặc giữa hai thân động mạch vành. Các vòng nối này được gọi là tuần hoàn bàng hệ của động mạch vành, khi tuần hoàn vành bình thường thì các vòng nối không mở, khi có hẹp hoặc tắc một nhánh hoặc một thân, hệ bàng hệ mở ra nhằm tưới máu cho vùng cơ tim bị thiếu máu tương ứng.
Như vậy, hệ thống động mạch vành có ba nhánh lớn làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tim là: động mạch liên thất trước, động mạch mũ và động mạch vành phải. Từ ba nhánh lớn này cho ra rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ hơn như các nhánh vách, nhánh chéo, nhánh bờ… sẽ có nhiệm vụ mang máu giàu oxy từ động mạch chủ đi nuôi dưỡng tất cả các cấu trúc trong quả tim. Khi bị bệnh lý động mạch vành, dòng máu từđộng mạch vành tới cơ tim giảm sút, khi đó cơ tim không nhận đủ oxy và xuất hiện triệu chứng cơn đau thắt ngực.



Bệnh động mạch vành và những điều cần biết  



Nếu không phát hiện kịp thời, bệnh động mạch vành có thể dẫn đến tình trạng nguy hiểm hơn đó là lòng mạch tắc nghẽn hoàn toàn và có thể bị hoại tử cơ tim. Đây là tình trạng cấp cứu khẩn trong y khoa vì tỉ lệ tử vong rất cao.
Cơn đau thắt ngực do bệnh động mạch vành
Chúng ta đều biết tim là một cơ quan nằm trong lòng ngực trái. Tim có hai buồng trái và phải được ngăn cách bằng một vách. Tim phải có nhiệm vụ là đẩy máu đen nhiều thán khí đến phổi và sau khi trao đổi với không khí bên ngoài máu đen trở thành đỏ có nhiều dưỡng khí trở về tim trái. Tim trái co bóp đưa máu đỏ để nuôi dưỡng tất cả cơ quan, tế bào của cơ thể chúng ta. Bản thân tim được động mạch vành (coronary artery) nuôi dưỡng. Máu được cung cấp cho cơ tim qua hệ thống động mạch vành.
Hệ động mạch vành gồm có động mạch vành trái và động mạch vành phải, xuất phát từ gốc động mạch chủ. Các động mạch này chia ra các nhánh nhỏ hơn tới nuôi từng vùng cơ tim. Bệnh động mạch vành xuất hiện khi một hoặc nhiều nhánh động mạch này bị tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn (thường là do các mảng xơ vữa). Thông thường cơn đau thắt ngực có thể xảy ra khi động mạch vành bị hẹp trên 50% khẩu kính của lòng mạch. Tình trạng hẹp này có thể do mảng xơ vữa bám ở thành động mạch vành hoặc do động mạch vành co thắt tạm thời khiến cho lượng máu qua động mạch vành giảm. Lúc đó cơn đau thắt ngực xuất hiện. Bệnh có tên là thiếu máu cơ tim cục bộ (thiếu máu nuôi một phần nào đó của cơ tim) hoặc gọi là thiểu năng vành (động mạch vành không làm đủ chức năng của mình là nuôi dưỡng tim).
Khi hoạt động thể lực như đi bộ đường dài, leo cầu thang, khiêng đồ nặng, ăn no, chơi thể thao…, cơ thể cần nhiều ôxy hơn nên cơ tim phải làm việc nhiều hơn như: tăng co bóp, tăng tần số tim, huyết áp tăng... do đó nhu cầu ôxy của cơ tim cũng tăng lên. Nếu một nhánh động mạch vành bị hẹp, sự cung cấp máu cho vùng cơ tim tương ứng trở nên không đầy đủ. Cơ tim bị thiếu máu và thiếu ôxy gây cơn đau thắt ngực. Vị trí đau thường ở vùng giữa ngực, sau xương ức hay vùng trước tim. Đau có thể lan lên cổ, ra hàm, ra cánh tay, thường gặp nhất là lan ra bên trái kèm theo các triệu chứng: vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt, bất tỉnh, mệt nhọc, khó thở, tái nhợt, tim đập mạnh. Đôi khi đau ở vùng thượng vị. Cảm giác bó chặt, thắt nghẹt, đè ép, đôi khi chỉ là cảm giác khó chịu trong ngực. Có trường hợp đau lan ra sau lưng, ra vùng cột sống làm người bệnh tưởng lầm là đau do thoái hóa cột sống thắt lưng. Cơn đau thắt ngực ổn định thường tự hết từ 1-5 phút sau khi ngừng gắng sức. Nếu cơn đau xuất hiện lúc nghỉ tĩnh hoặc cơn đau quá trầm trọng hoặc cơn đau kéo dài trên 30 phút thì phải nghĩ đến là bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp. Đôi khi có những trường hợp bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim mà không có triệu chứng cơn đau thắt ngực. Những trường hợp đó gọi là thiếu máu cơ tim thầm lặng, trong trường hợp này bệnh nhân có thể có biểu hiện như hở van hai lá, suy tim, rối loạn nhịp tim…
Các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành
- Tuổi: tuổi càng cao càng có nhiều nguy cơ bị bệnh động mạch vành;
- Giới tính: nam thường có nhiều yếu tố nguy cơ hơn nữ trong các bệnh lý tim mạch. Tuy nhiên nữ giới có nguy cơ bị bệnh động mạch vành cao hơn sau khi mãn kinh;
- Tiền sử gia đình: nếu bố mẹ, ông bà hay anh chị bị các tai biến tim mạch khi còn tương đối trẻ tuổi (nam giới dưới 55 tuổi, nữ giới dưới 65 tuổi), thì bạn có nguy cơ bị bệnh động mạch vành cao hơn;
- Lối sống ít vận động: những người không luyện tập thể dục thường xuyên sẽ có tuổi thọ thấp hơn những người có luyện tập thường xuyên;
- Mắc các bệnh: tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid...
- Hút thuốc lá: hút thuốc làm tăng nguy cơ bị bệnh, không chỉ các bệnh tim mạch mà còn các bệnh khác như ung thư phổi, ung thư vòm họng...
- Uống quá nhiều rượu, bia cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra thiếu máu mạn tính cục bộ ở cơ tim, làm xuất hiện những cơn đau thắt ngực ổn định.
Thay đổi lối sống giúp phòng ngừa bệnh
Mục đích của việc điều trị là làm giãn động mạch vành để máu lưu thông nhiều hơn nuôi dưỡng trái tim tốt hơn. Hiện nay việc điều trị bệnh động mạch vành có thể điều trị nội khoa (dùng thuốc) hoặc có thể thông lòng động mạch vành bị hẹp (angioplasty) hay nối thêm mạch máu bắt cầu qua chỗ nghẽn (bypass surgery). Cho dù người bệnh đã được điều trị bằng phương pháp ngoại khoa hay nội khoa thì việc thay đổi lối sống, điều trị một số bệnh có liên quan và tiếp tục sử dụng lâu dài một số thuốc là hết sức cần thiết để điều trị và phòng ngừa cơn đau thắt ngực.
Giải pháp lâu dài và hữu hiệu nhất vẫn là sự thay đổi các thói quen không tốt cũng như kiểm soát các yếu tố nguy cơ nhằm giúp chất lượng cuộc sống tốt hơn. Hãy kiểm soát hoạt động thể lực, tránh các sang chấn tinh thần (stress), các thói quen ăn uống không có lợi cho sức khoẻ, hạn chế uống rượu, bỏ thuốc lá và tránh khói thuốc, kiểm soát tốt các bệnh lý kèm theo để có cuộc sống dễ chịu hơn và khoẻ mạnh hơn.
- Thay đổi lối sống: xây dựng một lối sống thanh thản, vui vẻ, tránh căng thẳng quá mức, nhất là tình trạng stress; thực hiện một chế độ sinh hoạt, làm việc điều độ, sắp xếp công việc hợp lý. Người mắc bệnh động mạch vành thường được khuyên không hút thuốc, không ăn mặn và không ăn quá nhiều chất bột đường.
- Chế độ ăn uống phù hợp: thành phần dinh dưỡng chủ yếu của người bệnh tim mạch bao gồm các loại ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại hạt và rau quả. Nên ăn nhiều các loại rau quả, nhất là các loại rau lá màu xanh đậm, màu vàng và màu đỏ.  Những loại rau quả này có nhiều sinh tố và nhiều chất chống oxy hoá khác, nhất là các sinh tố C, E, A, B2, B6, Acid Folic cần thiết cho nhu cầu chuyển hoá, cho hoạt động của hệ miễn dịch, tăng cường sức bền của mạch máu và bảo vệ thành mạch khỏi sự xâm hại của những gốc tự do. Hạn chế tối đa ăn mỡ động vật, ăn ít đường, bơ, phomát, không nên ăn mặn; những món dưa, cà càng hạn chế. Đặc biệt, không nên ăn các món phủ tạng động vật. Không uống nhiều rượu, bia và những chất kích thích khác.
- Tập thể dục, vận động vừa với sức khỏe: đối với bệnh tim mạch, tập đều đặn tốt hơn là tập với cường độ cao. Đơn giản nhất là đi bộ 30 phút mỗi ngày vào buổi sáng hoặc buổi tối ít nhất 5 lần mỗi tuần. Đi bộ trên máy chạy bộ hoặc đi ngoài trời đều có hiệu quả.
Đồng thời cần phát hiện và điều trị những bệnh liên quan đến bệnh động mạch vành như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, béo phì - thừa cân.
Ngoài ra, nên thực hiện những bài tập thư giãn, dưỡng sinh mỗi lần từ 15 đến 20 phút, 1-2 lần mỗi ngày để giúp tạo ra những đáp ứng thư giãn và giữ được tinh thần lạc quan và sự tự tin. Thực hành tốt những điều này không chỉ có thể  phòng ngừa và điều trị cơn đau thắt ngực mà còn giúp tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống.




Bệnh động mạch vành là gì?

Bệnh mạch vành là tên gọi chung của một nhóm các bệnh lý liên quan đến mạch vành - mạch máu duy nhất đến nuôi dưỡng cho cơ tim, nó có thể là xơ vữa mạch vành, thiểu năng vành, suy vành… Bệnh mạch vành thường xảy ra khi các mảng xơ vữa tích tụ trong động mạch vành, làm giảm lưu lượng máu đến tim gây ra triệu chứng đau tim, đau thắt ngực hoặc có thể dẫn tới một cơn nhồi máu cơ tim cấp. Bệnh động mạch vành là loại bệnh tim phổ biến nhất và đó cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các bệnh lý về tim mạch trên thế giới.

Xơ vữa động mạch là gì?

Xơ vữa động mạch (còn gọi là xơ cứng mạch) là những mảng bám chứa đầy chất béo, cholesterol và các “chất thải” của cơ thể. Mảng xơ vữa không bám trực tiếp ở ngay trên bề mặt lòng mạch, thực chất nó là quá trình stress oxy hóa thải ra nhiều gốc tự do gây viêm, tổn thương sâu bên trong lớp nội mạc mạch máu, chúng được bồi đắp dày lên làm thu hẹp hoặc tắc nghẽn lòng mạch và cản trở dòng máu chảy qua. Xơ vữa mạch có thể xuất hiện ở động mạch vành, động mạch não, động mạch ngoại vi ở chân...
Lòng động mạch bị thu hẹp do mảng xơ vữa
Lòng động mạch bị thu hẹp do mảng xơ vữa

Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh mạch vành tim?

Nguyên nhân chủ yếu gây bệnh mạch vành là do xơ vữa động mạch vành. Hậu quả là tim bị thiếu máu, không nhận được đủ oxy cần thiết để hoạt động, thể hiện ra bên ngoài là những cơn đau tim, đau thắt ngực. Khi mảng xơ vữa bị vỡ ra, cơ thể sẽ tự làm lành vết thương thành mạch thông qua việc hình thành cục máu đông, điều này có thể làm tắc hoàn toàn động mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim. Một số nguyên nhân khác không phải do xơ vữa, chẳng hạn như chứng co thắt mạch vành, viêm mạch (lupus ban đỏ, bất thường mạch máu bẩm sinh); bệnh van tim, bệnh cơ tim phì đại dẫn đến suy vành cơ năng...

Đau thắt ngực có phải là bệnh mạch vành không?

Đau thắt ngực là một triệu chứng điển hình của bệnh tim do động mạch vành bị xơ vữa hoặc co thắt lại khiến cơ tim bị thiếu oxy, dinh dưỡng. Người bệnh có cảm giác bóp nghẹt, chèn ép ở chính giữa tim, đôi khi nó chỉ nhói hoặc âm ỉ ở phần ngực. Mọi người thường phải đặt một bàn tay ôm lấy ngực khi cơn đau xuất hiện. Cơn đau ngực có thể lan sang vai, cảm giác ngứa ran hoặc tê ở cánh tay, cổ, hàm hoặc ra sau lưng. Đau thắt ngực có thể chia thành dạng ổn định hoặc không ổn định:
- Đau thắt ngực ổn định: có thể dự đoán trước khi nào cơn đau xảy ra khi gắng sức, tập thể dục, cảm xúc giận dữ hay sợ hãi bất ngờ, hút thuốc lá... Tính chất cơn đau thường lặp lại giống như những lần trước đó. Cơn đau nhanh chóng thuyên giảm khi bạn nghỉ ngơi hoặc sử dụng thuốc giãn mạch.
- Đau thắc ngực không ổn định: thường không thể dự báo trước. Đau có thể xuất hiện ngay cả khi nghỉ ngơi. Tính chất, mức độ cơn đau cũng khác nhau ở mỗi lần xuất hiện. Cơn đau có thể là một dấu hiệu cảnh báo cơn đau tim có thể xảy ra bởi cục máu đông đang hình thành bên trong động mạch vành. Đây là một trường hợp cấp tính do đó cần cấp cứu kịp thời nếu cơn đau kéo dài quá 5 phút.
Ngoài ra, đau thắt ngực còn do co thắt động mạch vành, đau thắt ngực biến thể Prinzmetal

Triệu chứng khác của bệnh mạch vành là gì?
Triệu chứng phổ biến nhất của bệnh mạch vành chính là cơn đau thắt ngực, khó thở. Một số trường hợp còn đi kèm với cơn tăng huyết áp, nhịp tim nhanh... Với ở phụ nữ thì ít bị đau ngực nhưng thường có có cảm giác chán ăn, mệt mỏi, ợ nóng, buồn nôn, đau lưng, đau hàm... Ngoài ra, có nhiều người mắc bệnh mạch vành không có triệu chứng, còn gọi là thiếu máu cơ tim thầm lặng. Quá trình bệnh tiến triển âm thầm nhưng không gây ra bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào. Điều này đặc biệt nguy hiểm khi người bệnh không nhận biết được tình trạng sức khỏe của mình để điều trị kịp thời, chỉ đến khi cơn nhồi máu cơ tim xảy ra thì đã quá muộn để phòng tránh.

Điều gì làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành?

Những yếu tố nguy cơ dẫn đến xơ vữa mạch vành, bao gồm: Rối loạn lipid máu, cholesterol máu cao, tăng huyết áp, tiểu đường, hút thuốc lá, tiền sử gia đình có người mắc bệnh tim sớm (nam trước 55 tuổi và nữ tước 65 tuổi), tuổi cao... Nếu bạn là một trong số những người thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao, hãy phòng ngừa bệnh mạch vành ngay từ sớm để tránh biến chứng có thể xảy ra.

Bệnh mạch vành nguy hiểm không?

Một khi mắc bệnh mạch vành thì nguy cơ biến chứng lớn nhất là cơn nhồi máu cơ tim cấp, có thể lấy đi tính mạng của bạn bất cứ lúc nào. Nếu không kiểm soát tốt bệnh mạch vành, sau này nguy cơ bị suy tim, rối loạn nhịp tim là khó tránh khỏi. Điều này không những ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn gây tốn kém về kinh tế trong quá trình điều trị.

Bệnh mạch vành cấp – khi nào thì nên gọi bác sĩ?

Đừng chờ đợi nếu bạn nghĩ rằng mình đang có một cơn đau tim. Nhiều trường hợp thấy có cảm giác khá lạ trong người nhưng không chắc chắn về bệnh, hoặc không muốn làm phiền đến người khác nên chần chừ và không đi khám bệnh ngay. Tuy nhiên, nếu nhận được sự trợ giúp từ nhân viên y tế càng sớm thì bạn sẽ càng có nhiều cơ hội được cứu sống.
Hãy gọi cấp cứu ngay lập tức nếu có biểu hiện: Đau tức ngực, khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn và nôn, đầu óc quay cuồng cảm giác muốn ngất xỉu, nhịp tim nhanh bất thường... Nếu bạn có tiền sử bệnh tim, hãy dùng một viên niitroglycerin hoặc aspiirin theo hướng dẫn chỉ định của bác sĩ trước đó, và chờ xe cứu thương tới.

Chẩn đoán bệnh mạch vành như thế nào?

Các bác sĩ sẽ tiến hành các xét nghiệm cần thiết để kiểm tra mức độ bệnh của bạn, chẳng hạn như: Điện tâm đồ, siêu âm tim, chụp động mạch vành, nghiệm pháp gắng sức, xét nghiệm máu kiểm tra chỉ số Protein C CRP… Ngoài ra, có thể kiểm tra yếu tố nguy cơ như huyết áp, cholesterol máu, tuổi, bạn có hút thuốc hay không…

Có nên chụp động mạch vành không?

Chụp động mạch vành là thao tác sử dụng một ống thông đưa từ động mạch/tĩnh mạch ở đùi hoặc khuỷu tay đến vị trí lòng mạch vành có nghi ngờ bị tắc nghẽn. Thuốc nhuộm iot (chất cản quang) được tiêm vào mạch để hình ảnh hiện rõ trên tấm phim chụp X-quang. Chụp động mạch vành có thể xác định chính xác mức độ hẹp hoặc tắc nghẽn của lòng mạch, do vậy, nếu có bệnh mạch vành thì người bệnh cũng nên thực hiện xét nghiệm này, từ đó có hướng điều trị phù hợp.

Cách điều trị bệnh mạch vành như thế nào?
Tùy vào mức độ của bệnh, bạn có thể sẽ được chỉ định điều trị theo nhiều biện pháp khác nhau.
Thuốc điều trị bệnh mạch vành: Có thể bạn sẽ phải sử dụng thuốc điều trị trong một thời gian dài để làm giảm cơn đau thắt ngực và phòng nguy cơ xuất hiện cơn nhồi máu cơ tim. Các nhóm thuốc chính dùng cho người mắc bệnh mạch vành: Thuốc làm giảm đau thắt ngực, hạ huyết áp như nhóm giãn mạch, chẹn beta giao cảm, chẹn kênh canxi; thuốc chống cục máu đông; thuốc hạ mỡ máu...
Đặt stent hoặc nong mạch vành: Bằng phương pháp can thiệp nong mạch hoặc stent, vị trí lòng động mạch bị tắc hẹp sẽ được can thiệp mở rộng để khơi thông dòng máu đến nuôi tim. Áp dụng khi mạch vành hẹp từ 80% trở lên.
Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành: Áp dụng khi không thể đáp ứng với thuốc điều trị, không thể can thiệp đặt stent, hoặc tắc hẹp nhiều nhánh động mạch. Bác sĩ sẽ dùng một động mạch đùi hoặc ở ngực để bắc thay thế động mạch đã bị tắc nghẽn hoàn toàn, cung cấp máu cho vùng cơ tim đang bị tổn thương.

Mẹo để phòng ngừa bệnh mạch vành và cơn đau thắt ngực hiệu quả?

Bạn sẽ sống khỏe mạnh mà không lo bệnh mạch vành “ghé thăm” nếu biết cách áp dụng các phương pháp sau đây:
- Sử dụng sản phẩm hỗ trợ tốt cho bệnh mạch vành: Nhiều nghiên cứu hiện đại cho thấy, phòng ngừa bệnh mạch vành hiệu quả cần giảm cholelesterol, kháng viêm, chính là con đường đúng đắn nhất. Một số thực phẩm chức năng dành cho người bệnh mạch vành hiện nay cũng được một số nhà dược học phối hợp thêm những hoạt chất sinh học từ thiên nhiên có tính kháng viêm, kháng khuẩn như Bồ hoàng, Hoàng bá; chống oxy hóa như cây Đỏ ngọn; giãn mạch, tăng tưới máu cơ tim như Đan sâm, không chỉ giúp bạn phòng ngừa – khi chưa mắc bệnh, mà còn hỗ trợ làm giảm triệu chứng, ngăn chặn nguy cơ nhồi máu cơ tim - khi đã mắc bệnh mạch vành.
- Chế độ ăn lành mạnh, ít chất béo bão hòa, cholesterol và chất béo trans. Hạn chế muối, đường, rượu bia. Tăng cường rau quả, trái cây và nên ăn ít nhất 2 bữa cá một tuần. Hãy dành thời gian nghỉ ngơi sau khi ăn, nên chia thành nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày, thay vì 3 bữa no căng bụng
- Không hút thuốc lá. Chất nicotin trong thuốc lá làm tăng nguy cơ hình thảnh mảng xơ vữa, cục máu đông và gây co thắt động mạch.
- Tập thể dục đều đặn mỗi ngày để tăng cường sức khỏe tim mạch. Căng thẳng có thể làm tổn thương trái tim của bạn. Hãy giữ tinh thần luôn thoải mái, bớt căng thẳng, stress bằng hít sâu thở chậm, thiền hoặc yoga...
- Nếu biết trước rằng một công việc, hành động có thể gây đau thắt ngực, bạn hãy thực hiện nó một cách chậm rãi và nhẹ nhàng. Hạn chế leo cầu thang hay khuân vác vật nặng. Sử dụng một viên niitroglycerin trước khi bắt đầu một hoạt động đòi hỏi sự gắng sức có thể gây đau thắt ngực, chẳng hạn như đi bộ, leo dốc, quan hệ tình dục...

- Hãy gọi cho bác sĩ ngay khi có cơn đau thắt ngực dữ dội, bất ngở khi đang ngủ, nghỉ ngơi.







Hệ Hô Hấp



Cấu Trúc Đường Hô Hấp

   Đường Hô Hấp Trên, Đường Hô Hấp Dưới

Cấu Trúc Đường Hô Hấp, Đường Hô Hấp Trên, Đường Hô Hấp Dưới
Cấu Trúc Đường Hô Hấp
Đường hô hấp trên.
Các đường hô hấp trên bao gồm mũi, xoang cạnh mũi, cổ họng và thanh quản.
Đường hô hấp dưới.
Đường hô hấp dưới bao gồm khí quản, phế quản, tiểu phế quản và phế nang.




   Giải Phẫu Hệ Hô Hấp

Sự hô hấp là một đặc trưng cơ bản của sinh vật.

Hệ Hô Hấp
1. Mũi   2. Thanh quản   3. Khí quản   4. Phổi
Ở loài đơn bào sự trao đổi khí được thực hiện trực tiếp giữa tế bào và môi trường sống.
Ở động vật cấp cao như động vật có xương sống sự hô hấp gồm hai động tác hít vào và thở ra. Không khí từ bên ngoài vào phổi khi hít vào và ngược lại khi thở ra. Quá trình trao đổi khí giữa không khí và tế bào được thực hiện gián tiếp qua sự trao đổi khí và máu. Do đó hệ hô hấp gồm nhiều bộ phận được hình thành.
Hệ hô hấp ở người gồm hệ thống dẫn khí và hệ thống trao đổi khí giữa máu và không khí.
Hệ thống dẫn khí gồm có: Mũi, hầu, thanh quản, khí quản và phế quản.
Hệ thống trao đổi khí là phổi, chứa các phế nang là nơi trao đổi khí giữa máu và không khí.


Thanh Quản

Thanh quản (larynx) là cơ quan của tiếng nói và hô hấp, nằm ngang với 3 đốt sống cổ (IV, V, VI). Ngay phía dưới của xương móng ở vùng cổ trước, xô đẩy dễ dàng. Thanh quản của nam phát triển hơn nữ giới và nhô ra ở dưới da, trông rất rõ.


Thanh Quản
Thanh Quản
1. HÌNH THỂ NGOÀI, LIÊN QUAN
Nhìn chung thanh quản giống hình tháp có 3 mặt, đỉnh ở dưới nền ở trên.
- Ở trên và sau thông với hầu.
- Ở trước liên quan với các cơ vùng cổ trước bên.
- Ở 2 bên trên quan với bó mạch thần kinh cảnh và 2 thuỳ bên cua tuyến giáp.
- Ở dưới thông với khí quản.
Thanh Quản
1. Thân xương móng
2. Màng móng - nắp thanh quản
3. Khoang móng giáp nắp thanh quản
4. Màng giáp móng
5. Màng nhẫn giáp
6. Khí quản, 7. Sụn nhẫn
8. Khớp nhẫn giáp
9. Cơ nhẫn phễu sau
10. Cơ nhẫn phễu bên
11. Bó dưới cơ giáp phễu dưới
12. Bó trên cơ giáp phễu dưới
13. Cơ phễu nắp thanh quản
14. Sừng lớn (sụn giáp)
15. Sụn nắp thanh quản
16. Sừng nhỏ xương móng
17. Sừng lớn xương móng
Thanh quản (nhìn từ mặt bên)
2. CẤU TẠO
Thanh quản được cấu tạo bởi các sụn và được nối với nhau bởi các dây chằng, các cơ làm cho các sụn đó chuyển động rất tinh tế và lớp niêm mạc lát khắp mặt trong.
2.1. Các sụn
Có 5 sụn chính là sụn giáp, sụn nhẫn, sụn phễu, sụn nắp thanh môn, sụn sừng. Ngoài ra còn có sụn chêm, sụn thóc.
2.1.1. Sụn giáp
Là sụn đơn lớn nhất trong các sụn của thanh quản. Gồm có 2 mảnh: phải và trái hình tứ giác nối với nhau trên đường giữa tạo nên một góc mở ra sau. Góc này khoảng 900 ở nam tạo nên lồi thanh quản, và ở nữ là 1200. Ở góc sau gáy có sụn nắp thanh quản dính vào, và có các dây chằng bám. Ở 4 góc có 4 sừng: hai sừng trên to, 2 sừng dưới nhỏ. Hai sừng dưới khớp với sụn nhẫn, mặt ngoài có các cơ bám.
2.1.2. Sụn nhẫn
Là sụn đơn, giống như một cái nhẫn, cung nhẫn ở phía trước, mặt nhẫn ở sau. Bờ trên phẳng có hai diện khớp với sụn phễu, hai bên khớp với sụn giáp.
2.1.3. Sụn nắp thanh môn
Sụn thanh môn (hay là nắp thanh quản) là sụn đơn, giống như một lá cây, có cuống lá dính vào góc sau gáy của sụn giáp, mặt trước liên quan với đáy lưỡi có niêm mạc phủ và liên tiếp với niêm mạc của miệng, mặt sau nhìn vào lòng thanh quản.
2.1.4. Sụn phễu
Gồm hai sụn khớp với bờ trên sụn nhẫn. Sụn phễu hình tháp có 3 mặt, một đỉnh, một đáy, mặt trước ngoài có dây thanh âm trên và cơ giáp phễu bám.
- Mặt sau có cơ liên phễu bám.
- Mặt trong liên quan với thanh môn.
- Đỉnh khớp với sụn sừng.
- Đáy khớp với sụn nhẫn và có 2 mỏm đối xứng nhau: mỏm thanh âm ở trước trong; mỏm cơ ở sau ngoài.
Thanh Quản
1. Sụn nắp thanh quản
2. Sụn sừng 3. Sụn phễu
4. Sụn giáp 5. Sụn nhẫn
Các sụn của thanh quản (nhìn từ mặt sau)
2.1.5. Sụn sừng
Rất nhỏ nằm trên đỉnh sụn phễu.
2.1.6. Sụn chêm
Nằm trong nếp phễu nắp nối giữa sụn phều và sụn nắp.
2.1.7. Sụn thóc
Nằm ở bờ sau ngoài của màng giáp móng.
2.2. Các khớp màng và dây chằng
Tác dụng để nối các sụn trên với nhau.
2.2.1. Các khớp
Có nhiều khớp nối các sụn thanh quản với nhau và với thành phần xung quanh như xương móng, sụn khí quản trong đó có hai khớp quan trọng liên quan đến động tác phát âm.
- Khớp nhẫn giáp: Là khớp phẳng hình bầu dục có cử động được và lúc lắc quanh trục làm sụn giáp có động tác ngửa và nghiêng.
- Khớp nhẫn phễu là khớp trục, rất quan trọng để đóng mở thanh môn. Khớp nhẫn phễu có hai động tác:
+ Sụn phễu trượt trên bản nhẫn xuống dưới ra ngoài hoặc lên trên vào trong.
+ Sụn phễu tự xoay quanh một trục thẳng đứng làm cho mỏm cơ và mỏm thanh âm sụn phễu chuyển động ngược chiều nhau.
2.2.2. Các màng xơ chun thanh quản
- Màng tứ giác căng từ nếp phễu nắp ở phía trên đến nếp tiền đình ở phía dưới. Bờ trên là nếp phễu nắp. Bờ dưới nằm ngang là dây chằng tiền đình.
- Nón tiền đình còn gọi là màng nhẫn thanh âm, căng từ nếp thanh âm đến bờ trên sụn nhẫn. Phần trước nón rất chắc tạo nên dây chằng nhẫn giáp. Bờ tự do ở trên tạo nên tạo nên dây chằng thanh âm nối từ góc sụn giáp đến mỏm thanh âm của sụn phễu.
2.2.3. Các dây chằng
- Dây chằng giáp nắp nối từ cuống sụn nắp đến mặt trong sụn giáp.
- Màng giáp móng: Từ xương móng tới bờ trên sụn giáp, ở giữa màng dầy lên gọi là dây chằng giáp móng giữa và ở hai bên là dây chằng giáp móng có chứa sụn thóc.
- Dây chằng móng nắp: Từ bờ trên và sừng lớn xương móng đến mặt trước sụn nắp.
- Dây chằng lưỡi nắp: Từ gốc lưỡi đến sụn nắp tạo nên nếp lưỡi nắp giữa.
- Dây chằng nhẫn khí quản: Từ sụn nhẫn tới sụn khí quản.
- Dây chằng sừng hầu: Từ sụn sừng đi về phía dưới và vào đường giữa, nối liền với niêm mạc hầu.
- Dây chằng nhẫn phễu: Sau gắn mảnh sụn nhẫn vào mỏm cơ sụn phễu.
2.3. Các cơ
Cả khối thanh quản được vận động bởi các cơ từ những thành phần xung quanh đi tới thanh quản (cơ ngoại lai); các sụn thanh quản dịch chuyển lên nhau nhờ các cơ có cả hai đầu bám vào sụn thanh quản (cơ nội tại).
2.3.1. Các cơ ngoại lai
Đây là nhóm cơ có tác dụng làm thanh quản chuyển động hoặc cố định thanh quản, không tham gia vào động tác phát âm. Cơ ngoại lai bao gồm các cơ trên và dưới móng, có tác dụng nâng, hạ và cố định thanh quản.
2.3.2. Các cơ nội tại
Đây là nhóm cơ tham gia vào động tác phát âm. Cơ nội tại có 3 loại cơ tham gia 3 tác dụng.
- Cơ giáp nhẫn bám từ cung nhẫn tới bờ dưới sụn giáp khi cơ co làm sụn giáp ngả ra phía trước làm căng dây chằng giáp phễu (căng dây thanh âm).
- Cơ nhẫn phễu sau bám từ mặt sau sụn nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu. Khi cơ co làm xoay 2 mỏm cơ của sụn phễu kéo ra sau và xuống dưới gần lại nhau.
Đồng thời hai mỏm thanh âm đưa ra trước và lên trên xa nhau, do đó thanh môn được mở rộng.
- Cơ nhẫn phễu bên bám từ cung nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu. Khép thanh môn do xoay trong các sụn phễu.
- Cơ giáp phễu từ mặt trong góc sụn giáp bám tận vào bờ ngoài sụn phễu. Làm khép thanh môn và phần nào làm trùng dây thanh âm.
- Cơ phễu chéo và ngang. Phần ngang là cơ đơn nằm ngang gắn ở mặt sau hai sụn phễu, phần chéo cơ đôi từ mỏm cơ sụn phễu này đến đỉnh sụn phễu kia. Khi co làm khép thanh môn.
Thanh Quản
1. Cơ phễu nắp thanh quản
2. Cơ giáp nắp thanh quản
3. Cơ giáp phễu
4. Cơ nhẫn phễu bên
5. Cơ nhẫn giáp
6. Cơ nhẫn phễu sau
7. Cơ trên phễu
Các cơ của thanh quản
- Cơ phễu nắp là bó nhỏ bất thường đi từ cơ phễu chéo theo nếp phễu nắp gắn vào mảnh tứ giác và bờ sụn giáp. Có tác dụng đóng nắp thanh quản khi nuốt.
- Cơ thanh âm có thể coi đây là phần trong cùng của cơ giáp phễu. Sợi cơ đi từ góc sụn giáp ở phía trước tới mỏm thanh âm của sụn phễu. Khi co làm hẹp thanh môn.
- Cơ giáp nắp bám từ mặt trong mảnh sụn giáp và dây chằng nhẫn giáp tới bờ ngoài sụn nắp và nếp phễu nắp. Làm hạ sụn nắp, giống như một cơ vòng của thanh quản.
3. HÌNH THỂ TRONG CỦA THANH QUẢN
Mặt trong thanh quản nhẵn, được phủ bởi một lớp niêm mạc của hầu. Lấy hai dây thanh âm làm mốc thanh quản được chia làm 3 tầng:
3.1. Tầng trên (hay tiền đình thanh quản)
Là phần ở phía trên 2 dây thanh âm trên, loe rộng ra như một cái phễu, ở phía trước là sụn thanh thiệt, phía sau thông với hầu.
3.2. Tầng giữa (thanh môn)
Là một khe ở giữa hai dây thanh âm trên và dưới. Ở hai bên của tầng thanh môn còn có 2 ngách gọi là buồng thanh quản (hay buồng Morganni).
3.3. Tầng dưới (hạ thanh môn)
Là phần thông với khí quản.
3.4. Các dây thanh âm
Có 4 dây hai trên và hai dưới:
- Dây thanh âm trên: Được cấu tạo bởi niêm mạc hầu là chủ yếu và trong bề dầy của nó có dây chằng giáp phễu trên.
- Dây thanh âm dưới: Cũng có niêm mạc che phủ lên dây chằng giáp phễu dưới và bó sâu cơ giáp phễu dưới.
Nhưng thực sự chỉ có hai dây thanh âm dưới mới phát ra âm.
4. HÌNH SOI THANH QUẢN
Nhìn từ trên xuống khi thanh môn khép nó chỉ là một khe rất hẹp, khi thanh môn mở nó là một hình tam giác có đáy ở sau đỉnh ở trước và lúc này nhìn thấy rõ cả 4 dây thanh âm. Vì 2 dây trên ở xa đường giữa, 2 dây dưới ở gần đường giữa hơn. Các dây thanh âm lúc bình thường giống như một thừng trắng nhẵn, cử động dễ dàng khi phát âm ta thấy dây thanh âm dưới chạy ra chạy vào Trường hợp bệnh lý có thể thấy niêm mạc xung huyết, hoặc chảy máu hoặc u sùi. hoặc liệt dây thanh âm.
Thanh Quản
1. Sụn nắp thanh quản 12. Sụn nhẫn
2. Xương móng 13. Tuyến giáp
3. Cơ giáp móng 14. Màng giáp móng
4. Cơ phễu nắp 15. Màng tứ giác
5. Sụn giáp 16. Buồng thanh quản
6. Cơ thanh âm 17. Dây chằng tiền đình
7. Cơ khít hầu dưới 18. Khe tiền đình
8. Cơ nhẫn phễu bên 19. Dây chằng thanh âm
9. Bó mạch giáp trên 20. Khe thanh môn
10. Cơ nhẫn giáp 21. Nón đàn hồi
11. Cơ ức giáp 22. Dây chằng vòng
A. Tiền đình; B. Ổ dưới thanh môn
Hình thể trong của thanh quản
5. MẠCH MÁU THẦN KINH CỦA THANH QUẢN
5.1. Động mạch
Có 3 động mạch
- Động mạch thanh quản trên (a.laryngea superior) tách từ động mạch giáp trên cùng với thần kinh thanh quản trên xuyên màng giáp móng vào thanh quản.
Động mạch thanh quản giữa (a. laryngea median): Tách từ động mạch giáp trên qua màng nhẫn giáp vào thanh quản.
Động mạch thanh quản dưới (a. laryngea inferior): Tách từ động mạch giáp dưới đi cùng dây quặt X tới thanh quản.
5.2. Tĩnh mạch
Các tĩnh mạch của thanh quản đổ vào các tĩnh mạch giáp trên và giáp dưới.
5.3. Thần kinh
Chi phối cho thanh quản có 2 dây:
Dây thanh quản trên (n. laryngeasuperior) là một nhánh tách trực tiếp từ dây X tới chi phối cảm giác cho niêm mạc của thanh quản và chi phối vận động cho cơ nhẫn giáp.
Thanh Quản
1. Động mạch hầu lên
2. Động mạch giáp trên
3: Động mạch cảnh chung
4. Động mạch giáp dưới
Mạch của thanh quản
- Dây thanh quản dưới (dây quặt ngược X) đi từ dưới lên chi phối tất cả các cơ nội tại thanh quản, trừ cơ nhẫn giáp. Vì vậy liệt thần kinh thanh quản dưới sẽ gây mất tiếng.
Hai dây thanh quản trên có nhánh nối tiếp với nhau tạo nên quai thần kinh Galien (có sự bù trừ cho nhau).
Thanh Quản
1. Dây thanh quản trên
2. Dây thanh quản dưới
3. Nhánh ngoài dây thanh quản trên
4. Nhánh trong dây thanh quản trên
Thần kinh của thanh quản
6. CƠ CHẾ PHÁT ÂM
6.1. âm thanh
Âm thanh được tạo nên do luồng không khí đẩy từ phổi ra ngoài do sự co của cơ hoành, các cơ rộng bụng và cơ gian sườn. Luồng không khí này làm rung chuyển dây thanh âm phát ra âm thanh. Sự căng và vị trí từ các dây thanh âm thay đổi do các cơ của thanh quản điều khiển. âm thanh được cộng hưởng do các xoang mũi, miệng, hầu và các cơ ở môi, lưỡi và màn hầu trợ giúp.
6.2. Ho và hắt hơi
Đây là một phản xạ hô hấp, luồng không khí bị đẩy ra nhanh, mạnh, đột ngột do khe thanh môn đóng lại và mở ra bất ngờ. Nấc là do cơ hoành bất thần trong thì hít vào, khe thanh môn đóng lại một phần hay toàn phần. Cười tạo nên do sự thở ra ngắt đoạn phối hợp với sự phát âm “ha, ha”.



Hệ Thống Phế Quản

Phế quản là một phần của hệ hô hấp, có nhiệm vụ dẫn khí vào phổi. Nó được chia thành phế quản chính phải và phế quản chính trái, bắt đầu từ nơi phân chia của khí quản đến rốn phổi, ở ngang mức đốt sống ngực 4, 5; Hai phế quản tạo với nhau một góc 70 độ. Phế quản chính phải thường to hơn, ngắn hơn, dốc hơn nên thường dị vật lọt vào phổi phải. Sự phân chia cây phế quản là cơ sở cho sự phân thùy phổi.

Hệ Thống Phế Quản
Hệ Thống Phế Quản
Cấu trúc
- Phế quản chính phải gồm 10 phế quản phân thùy, chia ba nhánh lớn là phế quản thùy trên, phế quản thùy giữa và phế quản thùy dưới; tương ứng với phổi phải có 3 thùy là thùy trên, thùy giữa, thùy dưới.
- Phế quản thùy trên lại tách thành 3 phế quản phân thùy: Đỉnh, sau, và trước; ứng với 3 phân thùy cùng tên của thùy trên phổi phải.
- Phế quản thùy giữa chia 2 phế quản phân thùy: Ngoài và trong; ứng với phân thùy ngoài và phân thùy trong của thùy giữa phổi phải.
- Phế quản thùy dưới tách thành 5 phế quản phân thùy: Đỉnh của thùy dưới, trong, trước, ngoài, sau; tương ứng với 5 phân thùy: Trên, đáy trong, đáy trước, đáy ngoài, đáy sau của thùy dưới phổi phải.
-  Phế quản chính trái cũng gồm 10 phế quản phân thùy, chia hai nhánh lớn là phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới; ứng với phổi trái có 2 thùy: Thùy trên và thùy dưới.
- Phế quản thùy trên được tách thành 2 ngành là ngành trên (dẫn khí cho vùng đỉnh) và ngành dưới (dẫn khí cho vùng lưỡi). Ngành trên lại chia thành phế quản phân thùy đỉnh sau và trước; còn ngành dưới chia thành phế quản phân thùy lưỡi trên và lưỡi dưới. Các phế quản phân thùy này ứng với các phân thùy phổi cùng tên.
- Phế quản thùy dưới tách thành 5 phế quản phân thùy, cách chia và tên gọi giống với bên phải.
Hệ Thống Phế Quản
Mặt trước sụn thanh quản, khí quản và phế quản.
Mạch máu và thần kinh
Chi phối phế quản là các nhánh thần kinh từ các hạch giao cảm cổ và các thần kinh thanh quản quặt ngược phải và trái.
Mô học
Cấu tạo của thành các phế quản không hoàn toàn giống nhau trong suốt chiều dài cây phế quản . Tuy nhiên, các phế quản từ lớn đến nhỏ đều có cấu tạo đại cương giống nhau.
Thành phế quản từ trong ra ngoài gồm 4 lớp:
- Niêm mạc gồm có lớp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển . Các phế quản lớn có cấu trúc giống khí quản.
- Lớp đệm được tạo bởi mô liên kết thưa.
- Lớp cơ trơn được gọi là cơ Reissesen.
- Lớp sụn và tuyến: Các mảnh sụn bé dần theo đường kính phế quản và mất khi đường kính phế quản <1mm. Các tuyến phế quản thuộc loại tuyến nhầy và tuyến pha . Các tiểu phế quản có biểu mô phủ loại trụ đơn có lông chuyển nhưng ở đoạn cuối lại là biểu mô vuông đơn có hoặc không có lông chuyển. Tiểu phế quản tận cũng có biểu mô phủ là biểu mô vuông đơn. Tiểu phế quản hô hấp có biểu mô phủ là biểu mô vuông đơn tựa trên màng đáy, gồm các tế bào có lông chuyển, tế bào Clara.
Các phế nang được lót bởi lớp biểu mô rất mỏng gọi là biểu mô hô hấp .
Biểu mô hô hấp lợp vách phế nang gồm hai loại:Tế bào phế nang loại I (chiếm đa số, hình dẹt) và tế bào phế nang loại II (tế bào này lớn hơn loại I, hình cầu).

Vách phế nang có một mạng lưới mao mạch dày đặc. Trong vách gian phế nang còn có một số tế bào mà số lượng của nó phụ thuộc vào tuổi cũng như sự mỏng đi của thành phế nang (tế bào chứa mỡ, đại thực bào bụi ).



Chức Năng Đặc Biệt Của Các Cơ Quan Trong Cơ Thể



Chức Năng Đặc Biệt Của Các Cơ Quan Bên Trái Cơ Thể

Những cơ quan bên trái cơ thể cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì sự sống của con người. Hãy cùng tìm hiểu xem các cơ quan bên trái cơ thể đảm nhiệm nhiệm vụ gì nhé.
Chức Năng Đặc Biệt Của Các Cơ Quan Bên Trái Cơ Thể
Chức Năng Đặc Biệt Của Các Cơ Quan Bên Trái Cơ Thể
1. Tim
Tim nằm bên trái của xương ức. Tim có chức năng lọc và bơm máu đến tất cả các bộ phân của cơ thể. Một trái tim khỏe mạnh có nhịp đập 100.000 lần mỗi ngày và bơm trung bình khoảng 2.000 lít máu.
Tim là 2 khối cơ rỗng, hình tháp, đáy ở trên đỉnh ở được chia thành 2 phần: phải và trái. Tim phải chứa máu đỏ sẫm, nhiều cacbonic. Tim trái chứa máu đỏ tươi, nhiều khí oxy.
Mỗi bên được chia thành 2 ngăn, trên là tâm nhĩ, dưới là tâm thất, ở giữa có van nối thông với nhau. Chức năng của tâm thất phải là bơm máu vào phổi trong khi... tâm thất trái máu có nhiệm vụ đưa máu đi đến các bộ phận của cơ thể.
Có cấu trúc như một chiếc túi, được cấu tạo để thực hiện chức năng tiêu hóa, nằm ở phía bên trái của vùng bụng trên. Dạ dày đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Chức năng của nó là tiết ra các enzyme giúp tiêu hóa thức ăn.
Lá lách là cơ quan nằm ở phần trên - trái trong ổ bụng, cơ hoành, dạ dày và thận trái, được hệ thống dây chằng gắn vào với màng bụng. Nó có bộ lọc máu để chống lại các vi khuẩn có thể gây ra các bệnh nguy hiểm như viêm phổi và viêm màng nào. Lá lách cũng hỗ trợ trong việc tái phân phối nước, giúp bôi trơn các vùng cần nhiều độ ẩm như các khớp.
Ngoài ra, lá lách cung cấp sắc tố mật giúp gan tiết mật phục vụ tiêu hóa. Trong phôi thai, lách là nơi tạo hồng cầu. Sau khi sinh, chức năng này thuộc về tủy xương. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chức năng tạo hồng cầu của tủy bị suy giảm, lách sẽ đảm nhiệm một phần công việc này.
Tụy gồm có ba phần: Đầu tụy, đuôi tụy và thân tụy. Đầu tụy nằm sát đoạn tá tràng D2 và đuôi tụy kéo dài đến sát lách. Ống tụy nằm dọc suốt chiều dài của tụy và dẫn lưu dịch tụy đổ vào tá tràng. Chức năng của nó là để hấp thụ và xử lý các chất dinh dưỡng cần thiết, như protein, tinh bột, chất béo, được hỗ trợ bởi dịch tiêu hóa và đường ruột.
5. Bán cầu não trái
Bán cầu não trái được biết đến là phần não hoạt động liên quan tới khả năng tư duy logi, hợp lý, thiết thực. Nó sẽ giúp chúng ta giải quyết vấn đề hợp lý, đồng hóa các phần khác nhau một cách liên tục, phân biệt giữa hai hoặc nhiều đối tượng với nhau và giúp chúng ta có được sự khéo léo trong việc lập kế hoạch và tổ chức. Bán cầu não trái cũng liên quan đến khả năng viết, nói, kiểm soát cảm xúc. Nó có thiên hướng hướng đến các chi tiết cụ thể và xây dựng chiến lược. Nó tập trung vào quá khứ và hiện tại, nhìn nhận sự vật cụ thể trên thực tế, chứ không phải tưởng tượng.
Nếu bán cầu não phải thường hướng con người đến sự tưởng tượng, phiêu lưu mạo hiểm, thì bán cầu não trái lại giống như một người cẩn trọng, biết ngăn cản kịp thời.
Bán cầu não trái sẽ kiểm soát phía bên phải của khuôn mặt và cơ thể, còn bán cầu não phải kiểm soát phía bên trái của khuôn mặt và cơ thể. Có thể nói, tay trái chắc chắn không biết những gì tay phải làm, nhưng não trái lại biết.
Bạn có biết não trái làm việc như thế nào không?
- Bạn có thể đọc và hiểu được các trang văn bản là do thùy trán bên trái của bạn.
- Bạn có thể phân biệt được dấu bằng (=) và dấu hỏi (?) là do nhờ bán cầu não trái của thùy đỉnh.
- Bạn nhìn thấy các từ hay hình ảnh trên màn hình máy tính là do hoạt động của trái thùy chẩm.
- Bạn chớp mắt, đó là hoạt động chịu sự điều khiển của tiểu não. Tiểu não trái duy trì sự cân bằng và tạo điều kiện phối hợp giữa các hoạt động.
Mắt là một trong những cấu trúc tinh tế nhất của cơ thể. Mắt thu nhận và tập trung ánh sáng vào các thụ thể cảm giác ở phần sau, để năng lượng ánh sáng chuyển đổi thành tín hiệu thần kinh truyền đến não. Các tín hiệu thần kinh chính là những gì giúp chúng ta nhận biết được các hình ảnh khác nhau.
Mắt trái và mắt phải có chức năng tương tự nhau. Theo một nghiên cứu gần đây, có khoảng 30% dân số có xu hướng nhìn bằng mắt trái nhiều hơn.
Là một cơ quan bên trái cơ thể, cũng giống như tai phải, tai trái giúp chúng ta “dịch” được vô số âm thanh xung quanh mình. Bên cạnh việc nghe âm thanh và chuyển đổi chúng thành những thông điệp có ý nghĩa, tai còn có nhiệm vụ duy trì trạng thái cân bằng của cơ thể.
Phổi đảm nhận chức năng hô hấp. Không khí đi qua khí quản vào phổi thông qua phế quản. Phổi bên trái nhỏ hơn phổi bên phải vì phổi trái phải “chia sẻ” vị trí với trái tim ở lồng ngực trái.  Phổi trái được chia thành hai thùy: thùy trên và thùy dưới, thùy phải được chia thành ba thùy: thùy trên, thùy giữa, thùy dưới. Các mao mạch ở phế nang tạo thành một mạng lưới dày đặc, làm nhiệm vụ trao đổi khí - đây là chức năng chính của phổi
9. Ngực trái
Ngực của phụ nữ phát triển hơn ở nam giới, đảm nhận chức năng tiết sữa mẹ để nuôi con. Estrogen và progesterone là kích thích tố chính thúc đẩy sự phát triển của ngực. Trong một số thời kỳ, ngực có sự thay đổi hình dạng và kích thước, ví dụ trước kỳ kinh nguyệt hay trong thời gian phụ nữ mang thai. Thường thì ngực trái và ngực phải không cân nhau. Theo nhiều nghiên cứu, ngực trái thường có kích cỡ lớn hơn ngực phải.
Đây là hai bộ phận nhỏ có vai trò như cái máy lọc của cơ thể, có thể lọc chất độc và các chất thải khác ra khỏi cơ thể. Một trong hai quả thận nằm ở bên trái của cơ thể, thận trái nằm cao hơn một chút so với thận phải. Chức năng của thận rất quan trọng, nếu chúng bị “trục trặc” thì các chất độc sẽ không được thải ra khỏi cơ thể bạn.
Gắn với thận là tuyến thượng thận. Tuyến thượng thận phải có hình dạng như hình kim tự tháp, trong khi tuyến thượng thận trái giống hình lưỡi liềm. Tuyến thượng thận có chức năng quản lý việc sản xuất hormone.
Nước tiểu chảy từ thận đến bàng quang thông qua hai cấu trúc hình ống gọi là niệu quản. Niệu quản là một ống xơ cơ nằm trong tổ chức liên kết sau phúc mạc đi từ bể thận đến bàng quang, dài 25 - 28 cm, đường kính trung bình 5mm.
Có 3 chỗ hẹp là ở khúc nối bể thận - niệu quản, chỗ bắt chéo với động mạch chậu và đoạn nội thành bàng quang. Niệu quản được chia ra làm 2 đoạn: đoạn ở vùng bụng và đoạn ở vùng chậu.
12. Ống dẫn trứng trái
Tử cung là một cơ quan hình quả lê nằm phía sau bàng quang, có vai trò nuôi dưỡng thai nhi. Lớp niêm mạc tử cung (nội mạc tử cung) là vị trí trú ngụ của các các trứng đã thụ tinh. Hai bên của tử cung là ống dẫn trứng, chia thành hai ống,  mỗi ống kéo dài về phía buồng trứng nằm ở phía tương ứng của tử cung.
Ống dẫn trứng có chiều dài khoảng 10 cm và nhỏ hơn sợi mỳ. Nó thực hiện hai nhiệm vụ: một là đường di chuyển của trứng và tinh trùng; hai là nơi xảy ra sự gặp gỡ của tinh trùng từ ngoài đi vào và trứng từ buồng trứng đi ra.
13. Buồng trứng trái
Mỗi bên tử cung có một buồng trứng hình bầu dục, màu trắng đục, nằm gần những dây tua ở cuối ống dẫn trứng. Trong thời kỳ phôi thai, hai buồng trứng có khoảng 6 triệu bọc trứng non, khi sinh còn lại 1 triệu và chỉ còn 40.000 khi tới tuổi dậy thì. Khi dậy thì, dưới tác dụng của hormone sinh sản, trứng theo chu kỳ phát triển, chín và rụng.
Trong cả đời người nữ, chỉ có 400 trứng hoàn thành chu kỳ và rụng, những trứng khác thường teo nhỏ rồi tan biến. Ngoài ra, buồng trứng còn có chức năng tạo ra các hormone điều hòa sinh lý.
14. Tinh hoàn trái
Tinh hoàn hay dịch hoàn là một cơ quan sản xuất ra tinh trùng, đồng thời là tuyến nội tiết (tiết ra tiết tố nam testosteron). Tinh hoàn được coi là "nhà máy" sản xuất ra tinh trùng. Mỗi ngày, hai tinh hoàn của một người đàn ông trẻ tuổi có khả năng sản sinh khoảng 120 triệu tinh trùng. Một lượng nhỏ được dự trữ trong mào tinh hoàn nhưng phần lớn tinh trùng được dự trữ ở ống dẫn tinh.
Tại nơi dự trữ chúng có thể duy trì khả năng thụ tinh trong khoảng thời gian tối thiểu là một tháng. Có hai tinh hoàn phải và trái nằm trong bìu. Tinh hoàn trung bình có kích thước dài 4,5 cm, rộng 2,5 cm, dày 1,5 cm, cân nặng khoảng 20g. Tinh hoàn trái thường nhỏ hơn tinh hoàn phải.  





Chức Năng Đặc Biệt Của Các Cơ Quan Bên Phải Cơ Thể

Để chăm sóc cơ thể tốt hơn, bạn cần có những hiểu biết cơ bản về cơ thể con người. Trước hết, hãy tìm hiểu về các cơ quan nằm ở phía bên phải cơ thể. Vậy các cơ quan bên phải cơ thể này có chức năng gì đặc biệt?
Chức Năng Đặc Biệt Của Các Cơ Quan Bên Phải Cơ Thể
Chức Năng Đặc Biệt Của Các Cơ Quan Bên Phải Cơ Thể
Hãy nhìn vào giải phẫu của não và các bộ phận của não bộ, bạn sẽ thấy rằng bán cầu não phải chịu trách nhiệm kiểm soát các chức năng nhất định, liên quan đến tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng, nhận thức các kích thích âm thanh và hình ảnh.
Dù là mắt phải hay mắt trái, thì mắt người là cơ quan cho phép chúng ta nhìn thấy mọi thứ xung quanh mình. Nó hoạt động phối hợp với não để nhận sóng ánh sáng, chuyển đổi chúng thành hình ảnh rõ ràng mà chúng ta nhìn thấy mọi vật như là sản phẩm cuối cùng.
Cả tai trái và tai phải đều có nhiệm vụ hấp thụ sóng âm thanh từ môi trường xung quanh và chuyển chúng lên não, sau đó được chúng ta cảm nhận dưới các dạng âm thanh. Có nhiều thành phần khác nhau trong tai người, nhưng chúng làm việc với nhau đồng bộ với mục đích giúp con người nghe được âm thanh.
Ngực phải
Con người có một cặp "núi đôi", một nằm bên trái, một nằm bên phải. Xét về chức năng, ngực bên phải không khác so với bên trái. Về mặt mô học, chúng là một loại chuyển đổi của tuyến mồ hôi, có chức năng sản xuất sữa để nuôi con.
Xét về kích thước, phổi bên phải nhỏ hơn bên trái khoảng 5cm, nhưng nó có khối lượng nặng hơn phổi bên trái. Về mặt giải phẫu, phổi bên phải có ba thùy không cân xứng về kích thước, cụ thể là: thùy trên, thùy giữa và thùy dưới.
Bên cạnh chức năng hô hấp, phổi đóng vai trò quan trọng trong việc bải vệ tim và điều chỉnh độ pH trong máu.
Thận có hình dáng giống như hạt đậu và có kích thước là: dài 100-120mm, rộng 50-70mm. Thận nằm ở hai bên của cột sống (thận phải nằm bên tay phải). Đây là cơ quan chính của hệ tiết niệu. Trước khi bài tiết chất thải của cơ thể như nước tiểu, thận hấp thụ chất dinh dưỡng và chất điện giải cần thiết.
Vì vậy, thận trái hay thận phải cũng đều rất quan trọng để cân bằng điện giải và chất dinh dưỡng tái hấp thu.
Một trong những cơ quan nội tạng nằm ở bên phải của cơ thể là gan, đây cũng là cơ quan duy nhất trong cơ thể có khả năng tái tạo. Nó có màu nâu đỏ, nặng khoảng 1,2-1,3kg và nằm bên dưới cơ hoành.
Về mặt giải phẫu, gan được chia thành bốn thùy, kích thước khác nhau. Các chức năng chính của cơ quan tuyến này là điều tiết enzyme cho quá trình tiêu hóa chất béo và duy trì lượng đường trong máu.
Về mặt giải phẫu, mật được chia thành ba phần khác nhau: đáy, thân và cổ. Túi mật giúp hỗ trợ cho toàn bộ quá trình tiêu hóa.
Gần một nửa của ruột non nằm ở phía bên phải của cơ thể con người. Ruột non là một phần của hệ tiêu hóa sau dạ dày và trước ruột già. Đây là nơi diễn ra quá trình tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng của phần lớn thức ăn được đưa vào cơ thể.
Đại tràng phải bao gồm: manh tràng, đại tràng đi lên, đại tràng góc gan và đại tràng ngang. Đại tràng tăng dần lên tạo thành phần đầu tiên của ruột già, kết nối với ruột non thông qua manh tràng.
Đại tràng là đoạn cuối cùng của đường tiêu hóa có chức năng chứa các chất bã của thức ăn đã tiêu hóa cho đến khi chúng được thoát ra khỏi cơ thể dưới dạng phân.
Ruột thừa
Ruột thừa là một cơ quan hình túi nhỏ (dài khoảng 10cm), nằm giữa ruột non và ruột già. Trước nó là manh tràng và không có chức năng đặc biệt .
Các cơ quan sinh sản bao gồm tinh hoàn bên phải đối với nam giới, và buồng trứng bên phải đối với phụ nữ. Như vậy, một nửa số cơ quan sinh sản nằm ở bên trái, còn một nửa nằm ở bên phải. Chúng thực hiện chức năng sản xuất tinh trùng và trứng, sau khi thụ tinh sẽ cho thụ thai.