LINK POST TRUTHLADY3.BLOGSPOT



LINK POST TRUTHLADY3.BLOGSPOT
http://truthlady3.blogspot.com/2016/11/link-post-truthlady3blogspot.html

goosee
The Sound of Silence

Friday, April 13, 2018

10 SAI LẦM THƯỜNG GẶP KHI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG



Việc áp dụng thực dưỡng không có hiệu quả có nhiều nguyên nhân tuy nhiên điều chắc chắn là bạn đã vô tình phạm phải những sai lầm nào đó trong cách ăn uống . Bài viết dưới đây thucduongthienan.com xin chia sẽ đến các bạn 10 sai lầm thường gặp khi áp dụng phương pháp thực dưỡng . Nếu bạn là người mới bắt đầu áp dụng thực dưỡng hoặc áp dụng chưa có hiệu quả thì hãy xem kĩ bài viết này nhé :
Sai lầm 1. Dùng thường xuyên một loại rau củ hay trái cây trong một thời gian dài.
cần sử dụng đa dạng nhiều loại thực phẩm khác nhau để bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng
Mỗi loại thực phẩm đều cung cấp một hàm dượng dinh dưỡng và chất khoáng khác nhau. Không có thực phẩm nào là cung cấp đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng.. Mặt khác dùng thường xuyên một loại thực phẩm cũng gây dư thừa một chất dinh dưỡng hay một độc chất nào đó có trong cơ thể cũng sẽ không tốt đối với sức khỏe. Vì vậy chúng ta cần sử dụng đa dạng nhiều loại thực phẩm khác nhau để bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng . Chẳng hạn nếu ăn rau bạn có thể ăn luân phiên mỗi bữa một loại rau như rau đắng , rau má , cải thìa …..không nên ăn 1 loại rau ngày này qua ngày khác  .
Sai lầm 2 : Chỉ lựa chọn thức ăn “dương tính” hoặc “quá dương” nhưng không thích hợp với tình trạng cơ thể.
 Điểm mấu chốt khi áp dụng thực dưỡng là QUÂN BÌNH
Mặc dù đa số bệnh tật hay thức ăn của chúng ta đều mang tính Âm tuy nhiên không phải vì thì mà chúng ta bỏ hết tất cả các thức ăn Âm mà chỉ ăn thuần các loại thức ăn Dương . Điều này sẽ tạo ra sự mất quân bình và cơ thể sẽ không thích nghi kịp với sự thay đổi này do đó có thể gặp những phản ứng . Nếu ăn thức ăn Dương lâu ngày thì chúng ta cũng có thể bị lệch dương và lại bị mất quân bình cũng dẫn đến bị các bệnh dương . Do đó , điểm mấu chốt khi áp dụng thực dưỡng là QUÂN BÌNH . Hãy nhớ trung đạo luôn là lựa chọn tốt nhất .
Sai lầm 3 : Thay đổi chế độ ăn uống một cách quá đột ngột và thất thường khi áp dụng thực dưỡng.
 Đây có thể nói là một trong những sai lầm mà nhiều người gặp phải nhất . Điều này cũng dễ hiểu vì tâm lý của hầu hết mọi người là đều muốn hết bệnh một cách nhanh chóng do đó khi nghe nói đến chế độ ăn uống mới được quảng cáo là “có tác dụng tốt ” hay “nhiều người áp dụng thời gian ngắn đã có kết quả ” … là chúng ta lập tức áp dụng ngay mà chưa không chịu suy xét . Một trong những ví dụ điển hình của trường hợp này thay đổi chế độ ăn từ người mặn (ăn thịt cá ) chuyển đột ngột  sang chế độ ăn số 7 (chỉ ăn thuần gạo lứt muối mè ) . Hậu  quả trước mắt có thể thấy là là bị sút cân nghiêm trọng người gầy gò xanh sao , tụt huyết áp thậm chí ngất xỉu . Nhiều trường hợp khác áp dụng số 7 trong thời gian lâu có thể không đi đứng được phải ngồi xe lăn và yếu đến mức không nói chuyện được ….Bởi vì cơ thể chúng ta luôn cần có thời gian để  thích nghi với chế độ ăn uống mới . Do đó , muốn chuyển sang chế độ ăn khác hay cách ăn số 7 thì cũng phải hạn chế từ từ . Đồng thời phải có chuyên gia theo dõi và tư vấn để xử lý kịp thời khi gặp trường hợp cấp bách. Vì vậy lời khuyên chân thành của chúng tôi là hãy bình tĩnh và kiểm soát cảm xúc của mình bởi vì ông bà ta có câu “Dục tốc bất đạt” và nó đặc biệt đúng trong trường hợp ăn uống.
Sai lầm 4 : Dùng quá nhiều muối , đường , nước nhiều bơ và dầu mỡ khi áp dụng thực dưỡng.
Nhiều người do khẩu vị quen với việc ăn quá mặn hay quá ngọt hoặc hay uống nhiều nước dùng nhiều dầu mỡ trong bữa ăn . Điều này hoàn toàn không tốt trong thực dưỡng . Khi áp dụng thực dưỡng bạn nên giảm hẳn tất cả mọi gia vị .Chỉ nên ăn ở mức vừa phải , nêm nhạt . Tập khẩu vị cho quen dần từ từ sẽ khắc phục được và cảm nhận được hương vị tự nhiên của thức ăn.
Sai lầm 5 : Xem thực dưỡng là cách thức duy nhất để chữa bệnh mà không phối hợp với các phương pháp khác.
Thực dưỡng là một trong những phương pháp ăn uống để giúp cơ thể tái lập quân bình và  nhờ đó có thể tự chữa bệnh .Ngoài phương pháp thực dưỡng ra còn có nhiều phương pháp khác cũng giúp cơ thể mau chóng tái lập quân bình như : Vận động cơ thể , đi bộ , tập khí công , ngồi thiền , tĩnh tâm …
Ngoài ra trong những trường hợp cần phải phối hợp với các nền y học khác như : tây y , đông y , châm cứu, tâm lý ….Chẳng hạn , nếu bị nhiễm virus hay siêu vi thì có thẻ cần phải áp dụng cách loại thuốc trụ sinh bên Tây y để chữa trị trước để qua cơn cấp bách .  Nếu biết linh động phối hợp thực dưỡng với các phương pháp khác sẽ giúp cơ thể mau chóng tái lập quân bình và hiệu quả chữa lành sẽ cao hơn rất nhiều.
Sai lầm 6 : Không tự kiểm tra theo dõi sức khỏe hằng ngày
Thường xuyên theo dõi và  lắng nghe cơ thể để có điều chỉnh kịp thời
Khi áp dụng thực dưỡng nhiều người chủ quan cho rằng đây là cách ăn uống đúng đắn có thể chữa hầu hết các loại bệnh nên lơ là việc kiểm tra theo dõi sức khỏe hằng ngày .
Thực ra , không phải ai áp dụng thực dưỡng đều đúng 100% nhất là những người mới bắt đầu  . Vì vậy chúng ta phải thường xuyên theo dõi và phải biết lắng nghe cơ thể xem có những phản ứng hay biến đổi nào không để biết được là sức khỏe đang cải thiện hay có những sai lầm để điều chỉnh kịp thời. Trong khi áp dụng thực dưỡng đặc biệt là khi ăn theo số 7 thì cần theo dõi huyết áp, cân nặng thường xuyên . Tránh để tình trạng tụt huyết áp và sụt cân quá mức. Ngoài ra cần kiểm tra phân và nước tiểu mỗi ngày nếu áp dụng đúng thì nam đi tiểu 4 lần/ngày , nữ tiểu 3 lần ngày. Phân màu vàng , chặt và nổi trên nước là đúng. 
Sai lầm 7 : Áp dụng thực dưỡng khi cơ thể quá suy nhược , tình trạng bệnh quá nguy kịch.
Thực dưỡng là phương pháp trị bệnh dựa và khả năng chữa bệnh tự nhiên của cơ thể nên cần khoảng thời gian nhất định để cơ thể tái lập quân bình. Do đó khi cơ thể đã quá nguy kịch thì việc áp dụng thực dưỡng sẽ không mang lại hiệu quả . Tuy nhiên nếu áp dụng thì bệnh nhân vẫn có thể có những lợi ích như : không bị đau đớn hành hạ, ra đi êm đẹp…
Sai lầm 8 : Thiếu niềm tin và ý chí về khi áp dụng thực dưỡng
Khi thiếu niềm tin vào phương pháp chúng ta rất dễ vi phạm và phá vỡ những nguyên tắc ăn uống dễ bị lôi kéo bởi những món ăn hấp dẫn ảnh hưởng đến hiệu quả của phương pháp . Ngoài ra nếu thiếu niềm tin và ý chí chúng ta sẽ dễ bị dao động trước ý kiến của những người không am hiểu về thực dưỡng mà đa số là họ giải thích theo kiến thức Tây y . Điều này dễ làm chúng ta nản lòng và bỏ cuộc.
Sai lầm 9 : Không chịu đào sâu học hỏi nghiên cứu về phương pháp thực dưỡng.
Thực dưỡng không phải đơn thuần chỉ ngồi nhai cơm gạo lứt và muối mè thì sẽ hết bệnh . Thực dưỡng là một nền đạo lý , một nền triết học có sự kết hợp của nhiều kiến thức của đông và tây y . Nên chỉ một vài kiến thức về ăn uống không thì chưa đủ . Vì vậy khi áp dụng thực dưỡng cần đọc nhiều tài liệu sách báo về thực dưỡng , trao đổi kinh nghiệm với những người áp dụng thành công , thường xuyên đến tham dự những buổi nói chuyện , băng giảng video của những chuyên gia để tích lũy kiến thức và kinh nghiệm .
Sai lầm 10 : Không nhai kỹ khi ăn
Tập nhai kỹ khi ăn sẽ giúp hấp thu toàn bột chất dinh dưỡng và nâng cao sức đề kháng của cơ thể
Nhiều người xem nhẹ việc nhai kỹ thức ăn vì họ nghĩ rằng trước giờ họ vẫn ăn vậy và cơ thể họ đã thích nghi với thói quen này.  Họ cho rằng nhai kỹ chỉ danh cho những người bị bệnh về bao tử hoặc tiêu hóa kém . Thực sự việc nhai kỹ là cực kỳ quan trọng trong thực dưỡng . Bởi vì, gạo lứt là loại gạo nguyên cám nên cứng hơn và khó tiêu hóa hơn so với gạo trắng thông thường đã bỏ đi lớp cám . Nếu nhai không kỹ bạn sẽ cảm thấy khó tiêu và quan trọng hơn là bạn không thể  hấp thu trọn vẹn tất cả những tinh hoa và chất dinh dưỡng có trong hạt gạo.
Mặt khác , việc nhai kỹ khi ăn giúp tuyến mang tai tiết ra một kích thích tố gọi là parotin làm đổi mới cơ thể và gia tăng sức đề kháng bảo vệ cơ thể trước vi khuẩn có hại. Vì vậy hãy tập dần thói quen nhai kỹ khi ăn bắt đầu từ 50 lần , 70 lần , 100 lần … trên mỗi muỗng cơm . Khi đó bạn sẽ cảm thấy sự khác biệt thực sự và bạn sẽ cảm nhận được hương vị thực sự của thức ăn . Hãy nhớ câu này : nhai , nhai nữa , nhai mãi … ! 








10 CÁCH ĂN UỐNG THEO PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG OHSAWA



Khi nói đến cách ăn uống theo Phương pháp thực dưỡng Oshawa đa số mọi người đều nghĩ ngay đến cách ăn chỉ dùng gạo lứt muối mè . Thực ra gạo lức muối mè chỉ là một trong những cách ăn cao nhất của phương pháp ohsawa (ăn thuần 100% cốc loại , còn gọi là ăn số 7) dùng cho người bị bệnh ăn uống để mau chóng lập lại quân bình và trị bệnh
Ngoài cách ăn số 7 , Phương pháp ohsawa còn có thêm 9 cách ăn nữa để phù hợp với điều kiện sống của tất cả mọi người . Các cách ăn được xếp giảm dần từ cách ăn cao nhất là số 7 đến số 6, số 5, … và thấp nhất là -3 . Mỗi cách ăn thấp hơn thì lượng ngũ cốc giảm dần và tỉ lệ rau củ và thịt cá tăng dần.  Tùy theo khả năng và tình trạng cơ thể mà bạn có thể chọn và áp dụng theo một trong 10 cách ăn nhằm đảm bảo sức khỏe bản thân mình.
Dưới đây thucduongthienan.com xin giới thiệu các bạn,  bảng liệt kê 10 cách ăn theo phương pháp Oshawa :

Qua bảng trên ta thấy rằng đối với người ăn chay tùy theo cơ thể bệnh hay bình thường mà chúng ta có thể áp dụng từ cách ăn số 3 đến cách ăn số 7 . Đối với những người ăn thịt cá thì chúng ta có thể áp dụng từ cách ăn số 2 đến cách ăn số -3. Càng tăng tỉ lệ thịt cá nhiều thì chúng ta tăng thêm lượng rau sống và trái cây cho thích hợp.
Ngoài ra còn một điểm nữa cần lưu ý là vấn đề uống nước , chúng ta chỉ uống khi khát và uống từng ngụm . Điều này trái với các phương pháp ăn uống theo dinh dưỡng phương Tây luôn khuyến khích uống nhiều nước và uống không giới hạn. Thực ra chúng ta chỉ cần một lượng nước vừa phải vì nếu uống nhiều nước có thể gây hại thận . Tiêu chuẩn uống nước theo phương pháp thực dưỡng ohsawa là uống sao chon Nam mỗi ngày đi tiểu tối đa 4 lần và nữ mỗi ngày đi tiểu tối đa 3 lần là được. 
Trên đây là 10 cách ăn theo phương pháp Oshawa mà bạn có thể chọn lựa để ăn uống linh động dù là ăn chay hay ăn mặn đều có thể áp dụng được để đảm bảo quân bình âm dương duy trì sức khỏe cho bản thân và gia đình . Chúc bạn có những bữa ăn vui vẽ và thoải mái . 








7 QUY TẮC ƯU TIÊN KHI CHỌN LỰA THỰC PHẨM THEO PHƯƠNG PHÁP OHSAWA


1. Quy tắc 1 : Chọn lựa cốc loại ,rau củ , trái cây ĐÚNG MÙA :

Mỗi loại trái cây hay rau củ đều có quá trình sinh trưởng và phát triển từ lúc cây ra hoa, và kết trái do đó dùng trái cây đúng mùa thường là đúng quy luật tự nhiên và tránh được các phương pháp can thiệp của con người (bón phân , biến đổi gen…) để kích thích rau quả phát triển điều này ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của chúng ta.
Quy tắc 2 : Chọn lựa các loai rau , củ, quả TRONG VÙNG KHÍ HẬU MÌNH ĐANG Ở :
Đây chính là nguyên tắc  “Thân thổ bất nhị” trong thực dưỡng. Vì các loại rau, củ ,quả trong vùng khí hậu, địa phương mình đang ở sẽ hấp thu những tinh hoa và những dưỡng chất phù hợp với các loại động vật đang sống ở môi trường đó . Do dó nếu dùng các loại thực phẩm trong vùng sẽ giúp cho chúng ta bổ sung những dưỡng chất ở môi trường đó nhờ đó  thích nghi với môi trường sống tốt hơn.
Quy tắc 3 : Chọn dùng cốc loại, rau củ quả THIÊN NHIÊN không dùng các loại thuốc hay phân bón hóa học , hay qua quá trình chế biến bảo quản.
Các loại rau củ quả hiện nay đa số dùng thuốc trừ sâu và thuốc kích thích tăng trưởng và điều này đã tác động xấu đến sức khỏe của người dân .  Việc dùng  các loại thực phẩm tồn dư hóa chất chất thường xuyên và lâu dài là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên ung thư . Vì vậy chúng ta cần tránh tuyệt đối các loại thực phẩm chế biến công nghiệp hoặc sử dụng chất hóa học.
Quy tắc 4 : Không sử dụng quá nhiều một loại thực phẩm
Ta nên xem thực phẩm như vị thuốc , nếu sử dụng đúng liều lượng thì sẽ có tác dụng tốt và chữa được bệnh tuy nhiên nếu sử dụng nhiều sẽ gây ra tác dụng phụ và sẽ gây hại đến sức khỏe của chúng ta . Ví dụ muối nếu sử dụng một lượng vừa phải thì rất tốt cho sức khỏe . Nhưng nếu lạm dụng nhiều quá sẽ gây hại cho thận và cao huyết áp.
 Quy tắc 5 : Chọn lựa dùng thực phẩm NGUYÊN VẸN , TOÀN PHẦN

Điều này sẽ giúp chúng ta hấp thụ toàn bộ chất dinh dưỡng và có đầy đủ các khoáng chất sẵn có để tiêu hóa thực phẩm.Ví dụ, Đối với gạo nếu chúng ta ăn gạo trắng thì chúng ta đã bỏ đi gần như 80% các chất dinh dưỡng trong lớp cám gạo. Nghiên cứu cũng cho thấy trong các loại trái cây thì các chất dinh dưỡng của chúng cũng tập trung nhiều ở phần võ
Đối với động vật như cá chẳng hạn , nếu chúng ta ăn phần thịt mà bỏ phần xương thì chúng ta bỏ đi một lượng Canxi cần thiết để tiêu hóa chúng . Thay vào đó để tiêu hóa chúng cơ thể của chúng ta phải lấy nguồn canxi và các khoáng chất dự trữ trong cơ thể để bù đắp . Nếu tình trạng kéo dài thì sẽ dẫn đến loãng xương và dư thừa axit trong máu. Vì vậy thực dưỡng khuyên dùng cá nhỏ hoặc tép riêu để có thể ăn nguyên con là tốt nhất.
Quy tắc 6 : Dùng CỐC LOẠI LỨT và RAU CỦ làm thức ăn chính.
+Theo như thực dưỡng hiện đài thì tỉ lệ các loại thực phẩm chúng ta có thể sử dụng như sau :
   -50% đến 60% ngũ cốc lứt.
  -25% đến 30% các loaị rau củ thiên nhiên.
   -5% đến 20% các loại : miso, natto, tamari,  sắn dây, mơ muối, đậu, hạt,
+Ngoài ra ó thể sử dụng thêm một ít các thực phẩm phụ như :
    -Động vật : Cá, tép con (không lột vỏ, không bỏ đầu đuôi, xương, vãy….) ; hoa quả trái cây đúng mùa.
   - Thức uống : trà bancha, trà bồ công anh..
- Gia vị : hành, tiêu, tỏi, gừng, bột nêm thiên nhiên……
Quy tắc 7 : Chọn lựa thực phẩm PHÙ HỢP với tình trạng thể chất , sinh hoạt , nhu cầu của cơ thể .
Vì cơ thể của mỗi người không ai giống ai , nên cần phải theo dõi đặc thù của cơ thể để chọn lực thức ăn và đồ uống thích hợp . Chẳng hạn, vận động viên thì chế độ dinh dưỡng khác với người bình thường , người già chế độ ăn uống cũng khác người trẻ , người bệnh thì ăn uống cũng khác so với bình thường ….. 
Trên đây là 7 quy tắc giúp bạn chọn lựa thực phẩm theo phương pháp oshawa. Chúc bạn luôn có những bữa ăn ngon và thú vị với những thực phẩm mà mình đã lựa chọn 









ỨNG DỤNG ÂM DƯƠNG ĐỂ PHÂN ĐỊNH VÀ LỰA CHỌN THỰC PHẨM PHÙ HỢP VỚI BẢN THÂN



1. Phân định âm dương trong thực phẩm
Phân định âm dương trong thực phẩm gồm :
1.1. Phân định âm dương giữa các loại thực phẩm với nhau : như rau , củ , quả, thịt ,cá
1.2. Phân định âm dương đối với những thực phẩm trong cùng một loại : ví dụ giữa các loại rau thì rau nào âm hơn và rau nào dương hơn , giữa các loại củ thì củ nào âm hơn và dương hơn
1.3. Cách chế biến để làm dương hóa thực phẩm
Ví dụ : Ví dụ củ cải khi muối lên sẽ dương hơn so với củ cải tươi . Như vậy khi ngâm muối ta đã dương hóa thực phẩm.
1.1. Phân định âm dương giữa các loại thực phẩm với nhau :
Dưới đây là bảng các thực phẩm  được sắp xếp theo thứ tự ÂM GIẢM DẦN :
Âm : đường trắng -> giấm -> đường tinh luyện -> rượu -> dầu ăn -> mật ong -> hoa quả -> nấm -> đậu phụ -> nước -> hạt> đậu -> rau -> rong biển -> ngũ cốc -> sò hến -> cá sông -> xì dầu -> tương đậu miso -> cá biển -> muối biển -> chim -> bò lợn -> trứng -> muối tinh chế : Dương
Qua bảng thực phẩm trên ta nên dùng các thực phẩm ở mức Quân bình nằm ở giữa từ nấm đến muối biển là tốt nhất . Không nên ăn những thức ăn quá Âm hay quá Dương sẽ không tốt cho cơ thể trừ những trường hợp trị bệnh có sự tư vấn của chuyên gia.
1.2. Phân định âm dương đối với những thực phẩm trong cùng một loại
+ Đối với thực vật như rau , củ, quả thì ta cần lưu ý đến môt số đặc điểm như : Màu sắc , Mùi vị  ,Hình dáng , Đặc điểm sinh trưởng .. . để phân định Âm , Dương ..Dưới đây là cách phân định âm dương theo các đặc điểm trên :
  • Âm ,dương của vị:
Âm: Cay -> chua -> ngọt -> mặn -> đắng -> Chát : Dương
Ví dụ: độ ngọt của cơm so với độ đắng của cơm cháy thì cơm cháy mang dương tính hơn
  • Âm ,dương của màu sắc:
Âm : Tím -> chàm -> xanh da trời -> xanh lá cây -> trắng -> vàng -> cam -> đỏ -> nâu -> đen -> tia hồng ngoại: Dương
Ví dụ: Cà rốt màu đỏ thì dương tính hơn rất nhiều so với cà tím.
  • Âm ,dương của hình dáng:
Hạt to âm hơn so với hạt nhỏ;Dài âm hơn so với tròn
  • Đặc điểm sinh trưởng
Động thực vật sinh sống ở đồng bằng dương hơn so với miền cao, Ở miền biển thì dương hơn so với đất liền.Ví dụ : cá nước mặn thì dương hơn so với cá nước ngọt.
1.3 .Cách chế biến làm dương hóa thực phẩm 
Đối với các thực phẩm ta có thể làm dương hóa nó bằng cách :
+. Ngâm muối : vd :  củ cải trắng thì âm hơn so với của cải muối ; Chanh
+. Để lâu : Thực phẩm để lâu thì dương hơn so với thực phẩm ban đầu. VD : Là trà lâu năm thì dương hơn so với lá trà non.
+ Rang : gạo lứt rang dương hơn so với gạo lứt thường.
+ Nấu , hấp , luộc : chuối hấp hay nấu thì dương hơn so với chuối còn sống.
PHỤ LỤC PHÂN LOẠI THỰC PHẨM ÂM DƯƠNG
Dưới đây là Bảng phân định âm dương trong một số loại thực phẩm tiêu biểu (bảng 1) và bảng phân định âm dương chi tiết cho tất cả các thực phẩm (Bảng 2) thông dụng :
Bảng 1 : Bảng phân định âm dương  một số loại thực phẩm tiêu biểu
Ghi chú :
 Thực phẩm Âm ký hiệu :  -
 Thực phẩm Dương ký hiệu   + ;
- : Âm ít ; - - :  Âm nhiều ; - - -  : rất âm ;
+ : Dương ít ;  + + : Dương nhiều ; + + +  : rất Dương


2. Nhận biết thể trạng của mình và người khác thuộc âm hay dương
Tùy thuộc và đặc điểm tâm sinh lý , thể trạng mà mỗi người chúng ta đều mang khuynh hướng âm hơn hay dương hơn . Những đặc điểm này có thể thay đổi hàng ngày .Ví dụ có ngày chúng ta vui , có ngày chúng ta buồn hoặc có ngày chúng ta năng động nhiệt tình những cũng có ngày chúng ta chán nản lưới biếng … nên mỗi sáng thức dậy chúng cần xem xét lại bản thân để biết ngày đó mình đang dươn g hơn hay âm hơn để chọn lựa thức ăn phù hợp. Dưới đây là bảng liệt kê các đặc điểm âm dương chủ yếu để phân định :
STT             ÂM        DƯƠNG
1 Hoạt động chậm Hoạt động nhanh (1)
2 Giọng cao Giọng thấp
3 Bình tĩnh Nóng nảy
4 Yếu đuối, dễ khóc Cứng rắn, mạnh mẽ
5 Chậm chạp Nhanh nhẹn
6 Dễ cảm thấy đau Khó cảm thấy đau
7 Máu khó đông Máu dễ đông
8 Dễ buồn ngủ Dù không ngủ vẫn thấy bình thường
9 Nhiệt độ cơ thể thấp Nhiệt độ cơ thể cao
10 Nước tiểu nhạt Nước tiểu đậm
11 Màu môi nhạt Màu môi đậm
12 Mí mắt bên trong màu hồng Mí mắt bên trong màu đỏ
13 Mắt to Mắt híp
14 Phân đi cầu nhão Phân đặc , cứng
3. Lựa chọn thức ăn phù hợp với thể trạng ,điều kiện công việc , và môi trường bên ngoài
Nguyên tắc quan trọng khi ăn uống là làm sao để cơ thể đạt được trạng thái QUÂN BÌNH ÂM DƯƠNG của cơ thể . Bởi vì theo tiên sinh Ohsawa khi cơ thể quân bình thì chúng ta sẽ thoát khỏi mọi bệnh tật và đạt được hạnh phúc và trí tuệ phán triển cao nhất . Dưới đây là những điểm cần lưu ý để ăn uống quân bình :
-  Nên ăn các thực phẩm gần ở mức quân bình (dương ít hoặc âm ít ) tránh các thức ăn cực dương hay cực âm  :
   Ví dụ mục 1.1. , Phân định âm dương giữa các loại thực phẩm chúng ta  nên ăn các thực phẩm từ  nấm đến muối biển. Tránh ăn Đường (Cực Âm) hay Muối (cực Dương) quá nhiều.
          - Người khuynh hướng âm tính thì nên ăn thêm những loại thực phẩm có xu hướng dương tính hơn để quân bình.  Ngược người dương tính thì nên ăn các thực phẩm âm tính nhiều hơn như rau củ , quả .
     - Chú ý hài hòa âm dương giữa cơ thể với điều kiện làm việc và môi trường sống   :
   Cơ thể chúng ta thay đổi hàng ngày và điền kiện bên ngoài cũng vậy . Do đó cần phải theo dõi cơ thể và những yếu tố bên ngoài để hài hòa trong ăn uống .
   Ví dụ , nếu hôm nay buổi sáng thức dậy tâm trạng của bạn cảm thấy vui vẽ , phấn chấn thích hoạt động thì bạn đang dương và ngày hôm đó bạn có thể ăn nhiều thực phẩm âm hơn bình thường . Tuy nhiên , ngày hôm đó thời tiết âm u sắp có mưa hay bão thì có nghĩa là âm vì vậy bạn cũng không được ăn thức ăn âm nữa mà chọn lựa những thức ăn tương đối dương hơn để quân bình với thời tiết bên ngoài .
   Nếu tính chất công việc của bạn là chân tay hay trí óc mà chọn lựa thức ăn phù hợp.  Nếu công việc của bạn hoạt động chân tay nhiều thì có nghĩa là dương vì vậy bạn có thể ăn thêm nhiều trái cây và nước . Còn ngược lại nếu bạn làm công việc văn phòng thì bạn nên hạn chế ăn các thức ăn âm hơn.



Phân định Âm Dương Thức Ăn Nước Uống trong Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa

Và gạo lứt là nền tảng, thức ăn quân bình Âm Dương thích hợp với cơ thể người. Sau đây là những thực phẩm phân loại Âm Dương để khi dùng chúng ta kết hợp chế biến món ăn. Đây chỉ là sự phân định tương đối, có thể thay đổi theo môi trường, khí hậu, thời gian, mùa, cách nấu chế biến…
Cốt lõi của triết lý của Ngài Ohsawa hướng con người ăn uống những thảo mộc từ thiên nhiên, tiết chế việc ăn thịt từ thú vật
Cốt lõi của triết lý của Ngài Ohsawa hướng con người ăn uống những thảo mộc từ thiên nhiên, tiết chế việc ăn thịt từ thú vật
Hệ thống thực dưỡng của ngài Ohsawa không phải nói là rất đồ sộ, Gạo lứt muối mè chỉ là 1 cách trị bệnh của ông. Ngoài ra ông đưa ra nhiều quy luật, nhiều cách để phân định Âm Dương trong thực phẩm.
Ngày nay chúng ta kế thừa lại và phát huy những gì ông để lại trong việc phòng và trị bệnh theo phương pháp thực dưỡng Ohsawa.
“Thức ăn là thuốc” HIPPOCRATE ~ Ông Tổ của Tây Y.
Câu gốc Hippocrates — 'Let food be thy medicine and medicine be thy food.'
“Khi trị bệnh dùng thức ăn thay thuốc có phần lợi hơn” ~ Hải Thượng Lãn Ông Đại Y Sư Việt Nam thế kỷ 18.
Cốt lõi của triết lý của Ngài Ohsawa hướng con người ăn uống những thảo mộc từ thiên nhiên, tiết chế việc ăn thịt từ thú vật. Không ăn những hoa quả trái cây biến đổi gen, trái mùa, những gì trái với quy luật tự nhiên. Và một điều quan trọng thực phẩm phải hoàn toàn tự nhiên, không sử dụng hay xử lý hóa học nào.
thức ăn là thuốc
Trích một đoạn trong sách Thực Dưỡng Ohsawa:
So sánh tình trạng sức khỏe và ăn uống của những thế hệ tiền nhân và hiện nay, ta thấy sức khỏe con người bị suy thoái dần, trong khi món ăn thức uống càng ngày càng phong phú hơn xưa; ngoài gạo lứt xay xát trắng, thức ăn tinh chế và xử lý hóa học, còn có thêm những thức ăn mới như đường cát kết tinh, đường hóa học, nước ngọt, gia vị tổng hợp (như bột ngọt),..Thêm vào đó, ở các nước công nghiệp phát triển, thịt và thực phẩm gốc động vật đã trở nên thức ăn chính thay vì hạt cốc.
Chính cách ăn uống gọi là “văn minh” này cộng với lối sống “hiện đại, tân tiến” xa rời thiên nhiên đã gây ra nhiều tai hại như ta thấy ngày nay.
Danh Y Tuệ Tĩnh có câu nói nổi tiếng “Nam Dược trị Nam Nhân”, dùng thảo dược xung quanh để trị bệnh cho người Việt. Nên ông bà từ xa xưa đã dùng những thực phẩm, những cây xung quanh mình đã ăn uống và trị bệnh, nên kéo dài tuổi thọ rất cao.
Và gạo lứt là nền tảng, thức ăn quân bình Âm Dương thích hợp với cơ thể người. Sau đây là những thực phẩm phân loại Âm Dương để khi dùng chúng ta kết hợp chế biến món ăn. Đây chỉ là sự phân định tương đối, có thể thay đổi theo môi trường, khí hậu, thời gian, mùa, cách nấu chế biến…
gạo lứt quân bình âm dương
Dựa vào bảng phân định này cá nhân chúng ta có thể áp dụng ví dụ ngày Đông (Âm) thì chúng ta nên ăn uống Dương hơn, còn mùa hè, khô nóng (Dương) thì chúng ta nên ăn Âm hơn.
Nói về phân định thực phẩm Âm Dương thì nó tùy hoàn cảnh, tùy điều kiện, đây như là một trò chơi thú vị mà bạn tự khám phá mở mang trí óc.
Tỷ lệ ăn uống lý tưởng trong dinh dưỡng của Con người theo ngài Ohsawa là 5 Âm/1 Dương hoặc 3/2 đến 7/1 tùy theo môi trường sống. Nhưng chốt lại ngài Ohsawa vẫn nói nên dùng thực phẩm từ nguồn gốc thảo mộc.
 
phân định âm dương thức ăn nước uống ohsawa (2)
 
phân định âm dương thức ăn nước uống ohsawa (3)
 
phân định âm dương thức ăn nước uống ohsawa (4)
 
phân định âm dương thức ăn nước uống ohsawa (5)
 
phân định âm dương thức ăn nước uống ohsawa (6)
 
phân định âm dương thức ăn nước uống ohsawa (8)

phân định âm dương thức ăn nước uống ohsawa (7)
 
phân định âm dương thức ăn nước uống ohsawa (9)



7 NGUYÊN TẮC PHÂN ĐỊNH ÂM DƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP OHSAWA



I.Khái niệm Âm , Dương trong triết lý Đông Phương.  
Học thuyết âm dương là 1 triết lý của người xưa, được xây dựng qua sự quan sát lâu dài các sự vật trong thế giới tự nhiên luôn cùng có hai mặt, hai tính chất khác nhau. Hai tính chất này đối lập nhau nhưng luôn tồn tại bên nhau không thể tách rời được và người xưa đã khái quát 2 tính chất đó là Âm và Dương . 
Âm dương là khái niệm phổ biến của trời đất. Mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều có thể lấy âm dương làm đại biểu . Như trong tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đông - tây, trong xã hội: quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi...             
Âm dương tuy đối lập nhau nhưng không phải là hai mặt tách rời nhau và chỉ có đấu tranh với nhau mà còn thống nhất với nhau, nương tựa vào nhau để tồn tại. Nếu chỉ một mình dương hay một mình âm thì không thể sinh thành, biến hóa được. Nếu một mặt mất đi thì mặt kia cũng mất theo.
 Ví dụ : Ngày là Dương và Đêm là Âm . Nếu không có ngày thì cũng không có Đêm và ngược lại hay nói cách khác Ngày tồn tại là do Đêm và Đêm tồn tại là do có ngày . Sở dĩ có người giàu là do có người nghèo …
Mặt khác, tính Âm và Dương cũng chỉ là tương đối thể hiện ở 2 điểm sau :
Thứ nhất, không có gì hoàn toàn Âm hoặc hoàn toàn Dương .
Ví dụ :Đất lạnh nên thuộc âm nhưng càng đi sâu xuống lòng đất thì càng nóng thuộc dương; nắng nóng thuộc dương, nhưng nắng nhiều sẽ có mưa nhiều (hơi nước bay lên) làm nên mưa lạnh thuộc âm.
Thứ hai , Âm dương chỉ là tương đối so sánh với một đối tượng nào đó.  
Ví dụ : Màu trắng so với màu đỏ  thì là âm, nhưng so với màu đen thì là dương. Vì thế một vật bản chất vốn không phải là dương hoặc âm gì cả, nó sẽ chỉ trở thành âm hoặc dương tuỳ theo so sánh nó với một vât khác mà thôi và dĩ nhiên việc so sánh này phải xảy ra cùng một đằng lượng.

II. 7 NGUYÊN TẮC PHÂN ĐỊNH  ÂM DƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP OHSAWA

 
Theo ohsawa thì nguồn gốc của các loại bệnh tật là do cách ăn uống mất quân bình Âm dương . Hiểu nôm na là nếu chúng ta ăn nhiều thức ăn Âm thì chúng ta sẽ mắc các bệnh Âm . Ngược lại nếu chúng ta ăn nhiều những thức ăn Dương thì chúng ta sẽ bị mắc các bệnh Dương .
Do đó , để chữa khỏi bệnh chúng ta chỉ cần ăn những loại thực phẩm sao cho tái lập lại quân bình Âm dương từ  đó cơ thể sẽ khỏe mạnh và tự chuyển hóa mọi bệnh tật .Để biết được những loại thực phẩm mình sử dụng hàng ngày là Âm hay Dương Ohswa đã đưa ra 7 nguyên tắc để phân định Âm , Dương dưới đây : 
1. Xét về định HƯỚNG phát triển của thực vật :

-Các thực vật mọc dưới mặt đất:  nếu mọc đâm sâu thẳng xuống lòng đất là Dương, lan rộng ra dưới mặt đất là Âm, thí dụ như củ cà rốt dương hơn so với củ khoai mì vì cà rốt có rễ mọc thẳng và đâm sâu xuống đất còn khoai mì có rễ nằm lan rộng ra .  
- 
Các thực vật trên mặt đất: càng phát triển xa mặt đất càng âm
Thí dụ cây dừa âm hơn so với cây đu đủ vì nó hướng lên cao hơn so với cây đu đủ 
2.Xét về tính chất VẬT LÝ:
-Về hình dáng: vật có hình chữ nhật đứng âm hơn so với vật có hình chữ nhật nằm ngang.
-Độ lớn : Vật có hình dạng nhỏ hơn thì dương hơn ; 
-Màu sắc : Sắp xếp theo thứ tự DƯƠNG GIẢM DẦN :  Đỏ, Cam, Vàng, Lục Lam, Chàm Tím .
-Cấu trúc: vật nào đặc hơn thì dương hơn so với với vật rỗng hơn;
-Trọng lượng: 2 vật có cùng thể tích nhưng vật nào có tỉ trọng hay trọng lượng nặng hơn thì nó dương hơn so với vật còn lại.

Tóm lại về mặt vật lý thì các vật đặc, nặng , nhỏ, rực rỡ thì dương hơn so với những vật  rỗng, nhẹ , to, tối .

3. Xét về tính chất HÓA HỌC:
         -Tỉ lệ K/Na: tỉ lệ K/Na càng lớn thì càng âm hơn so với vật thể cùng một đằng lượng.
        -Nhiệt độ: Nóng hơn thì dương hơn so với lạnh
        -Thành phần nước chứa bên trong: vật chưá nhiều nước càng âm hơn.


4. Xét về mặt SINH VẬT học:
   -Thời gian tăng trưởng: trong cùng một khoảng thời gian , vật thể tăng trưởng chậm dương hơn so với vật tăng trưởng nhanh hơn.
   -Thời gian nấu chín: vật càng nấu lâu hơn thì càng dương hơn

5. Về SINH THÁI học:
  - Khí hậu: vật mọc ở xứ lạnh có khuynh hướng dương hơn so vói vật mọc ở xứ nóng hơn. Thí dụ trái cây mọc ở vùng hàn đới dương hơn trái cây mọc ở vùng nhiệt đới;
  - Khuynh hướng: phát triển trong mùa thu, mùa đông, khí hậu lạnh, độ tăng trường chậm hơn, dương hơn vất thể phát triển vào mùa xuân, mùa hạ, khí hậu ấm hơn, độ tăng trường nhanh hơn.

6. Về SINH LÝ học:
-khuynh hướng phát triển: vật thể hướng tâm thì dương hơn so với vật ly tâm lực .vd: củ cà rốt mọc đâm xuống đất ( hướng tâm) thì dương hơn so với rau bồ ngót mọc đứng hướng lên (ly tâm)

 -phản ứng hóa học: làm cho co rút, teo tóp là dương hơn so với làm cho dãn nở, choáng váng, say
-thời gian tác dụng: tác dụng vào buổi sáng đến trưa dương hơn so với tác dụng từ chiều đến tối. Ví dụ : sốt cao từ sáng đến trưa dương hơn sốt cao từ chiều đến tối

7.Về TÂM SINH LÝ :
- Vị trí: Phần  sau đầu là dương, trán và hai thái dương là âm
-Sinh hoạt: hoạt động thì dương hơn so với thụ động
-Dưỡng khí ( oxygen ) : nhiều là Dương, ít là Âm
- Hơi thở và nhịp đập tim : Nhanh là Dương, Chậm là Âm
- Xúc Cảm : Vui vẽ, hoạt bát là Dương , Trầm lắng , thụ động là Âm
- Nhiệt Độ : Nóng là Dương, lạnh là Âm
- Màu da :  Hồng  là Dương , Nhợt xanh là Âm
- Giọng nói : giọng cao to là Dương , giọng lí nhí thấp là Âm

III.  Lưu ý khi phân định Âm , Dương theo phương pháp Ohsawa
Như đã nói ở trên , tính chất Âm , Dương của một vật chỉ là tương đối và sự phân định âm dương theo phương pháp Ohsawa dựa trên nhiều nguyên tắc khác nhau (về vật lý, hoá học, sinh vật học, sinh thái họ, sinh lý học và sinh hoá học…) cho nên một vật thể  hoặc một loại thực phẩm có thể sẽ gồm nhiều yếu tố âm dương mâu thuẩn nhau.
Chẳng hạn , Trái ớt xét về vật lý thể có màu đỏ thì dương hơn so với màu xanh âm ;nhưng xét về mặt sinh hóa , lại có tác dụng trương nở  (làm nóng , giãn nỡ gây chảy nước mũi) là âm so với co rút được qui định là dương. Do đó, áp dụng thực tiển chỉ chú trọng vào tác dụng của thực phẩm hay vị thuốc ấy đối với cơ thể là chính yếu . Chẳng hạn , trái ớt ở trên có tác dụng đối với cơ thể làm , giãn nỡ gây , nóng rát chảy nước mũi nên xếp loại là Âm.








NGUỒN GỐC NGUYÊN LÝ ÂM DƯƠNG TRONG PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG OHSAWA


Phương pháp thực dưỡng ohsawa (macrobiotics) được ohsawa phát triển từ phương phương pháp Thực dưỡng Nhật bản do Sagen Ishizuka (1851-1960) sáng lập . Bác sỹ Sagen Ishizuka là người thích nghiên cứu y học và thiên văn học  từ khi còn trẽ . Năm 18 tuổi ông đã thông thạo rất nhiều thứ tiếng như : Hà lan , Pháp , Đức , Anh . Ông thường nghiên cứu về Hóa học, y học và thiên văn học bằng tiếng nước ngoài .
 Sagen Ishizuka (1851-1960)
Từ nhỏ ông đã gặp nhiều bệnh tật mà Tây y không thể chữa hết . Và ông luôn nghiên cứu tìm tòi về y học để chữa khỏi căn bệnh của mình . Sau nhiều năm nghiên cứu ông nhận ra rằng  Bệnh tật không thể chữa trị bằng thuốc mà chỉ có thể được chữa bằng thức ăn mà thôi . Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng: mọi bệnh tật và yếu tố thể chất đều do sai lầm trong thói quen ăn uống mà ra . Từ đó ông đã xây dựng một khoa học về ăn uống để đạt được sức khỏe và hạnh phúc . Ban đầu nó được gọi với tên là : Shokuyo . Shoku có nghĩa là toàn bộ vật chất và năng lượng tạo ra và nuôi dưỡng một con người hoàn hảo. Yo nghĩa là cách làm hay cách tự nuôi dưỡng mình theo hiểu biết về Shoku .
Lý thuyết Shokuyo đó đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của 2 yếu tố Kali (K) và Natri (Na) . Theo Ishizuka thì mọi bệnh tật hay các hiện tượng tự nhiên như thay đổi theo mùa và sự khác biệt của các sinh vật đều do K và Na tác động  . Ông cho rằng trong cơ thể người thì các chất hữu cơ tạo ra các phần trong cơ thể trong khi các chất vô cơ lại điều khiển chức năng hoạt động của các cơ quan , sự chuyển hóa và hoạt động của hệ thần kinh . Và 2 khoáng chất quan trọng nhất trong cơ thể chính là là K và Na  . Ông ví rằng nếu đem so sánh cách chất dinh dưỡng với quân đội thì : Carbonhydrate là các chiến binh, protein và chất béo là sỹ quan , K là đại tướng và Na là phó tướng. Các muối  K và Na vừa đối nghịch nhau vừa hỗ trợ cho nhau giống như vợ và chồng trong một gia đình.  Trong đó muối K thúc đẩy cho sự oxi hóa và muối Na thì ngăn cản sự oxi hóa. Ông cho rằng sự khách nhau về thể chất như : màu da , béo , gầy , lớn nhỏ , sức mạnh ,sống lâu , bệnh tật ….đều phụ thuộc vào môi trường và đầu vào của thức ăn có chứa muối K và muối Na.
Ông đã vận dụng lý thuyết này vào việc chữa bệnh cho cách bệnh nhân của mình. Đối với cách bệnh có triệu chứng bệnh nhóm K ông khuyên nên ăn nhiều thức ăn có muối Na và ngược lại . Bằng cách này ông đã chữa hết bệnh cho rất nhiều người và trở nên nổi tiếng nhanh chóng.
Sau khi ông mất thì các học trò của ông đã thành lập hội thực dưỡng Shokuyo Kai . Tuy nhiên  hội này hoạt động được một thời gian thì suy yếu và dần rơi vào tình trạng phá sản . May mắn thay có một thanh niên đã chữa khỏi bệnh tật nhờ ăn gạo lức theo phương pháp của ông đã vực dậy và phát triển lại hội này . Người đó chính là George Ohsawa . George Ohsawa đã nghiên cứu lý thuyết của Ishizuka và nhận thấy mối liên hệ của khái niệm Muối K và Muối Na với lý thuyết Âm dương của y học Phương đông từ đó ông chuyển thuật ngử muối K và muối Na thành khái niệm Âm và Dương. Ohsawa được xem như là người sáng lập ra phương pháp thực dưỡng ngày nay Macrobiotics.










THỰC DƯỠNG LÀ GÌ ?


Thực dưỡng là gì ?
Xét về mặt ngôn từ chúng ta có thể hiểu từ Thực : nghĩa là Ăn Uống, còn từ Dưỡng : nghĩa là Dưỡng sinh . Như vậy có thể định nghĩa :  Thực Duỡng là  đường lối ăn uống đúng đắn để cơ thể luôn khỏe mạnh tinh thần minh mẫn. Theo tôi đây là cách định nghĩa đơn giản dễ hiểu và đáng đắn nhất.
Thực ra thực dưỡng đã ra đời từ rất lâu và người đầu tiên đề cập đến phương pháp này đo chính là ông Tổ ngành y Hippocrates với câu nói nổi tiếng : "Our Food Should Be Our Medicine and Our Medicine Should Be Out Food" ( Nghĩa tiếng Việt là  : Thực Phẩm Của Chúng Ta Chính Là Vị Thuốc và Thuốc Của Chúng Ta Chính Là Thực Phẩm )
Hippocrates được xem là người đầu tiên nói về phương pháp thực dưỡng
Đến đây chắc có lẽ bạn cũng đã hiểu phần nào vì sao phương pháp thực dưỡng là một phương pháp trị liệu không dùng thuốc .  Bởi vì  "thuốc" của phương pháp thực dưỡng chính là "thức ăn" chúng ta sử dụng hàng ngày. Ông bà ta cũng thường dạy : "Bệnh từ miệng mà vào , họa từ miệng mà ra" .Chúng ta bị bệnh bởi vì chúng ta đã ăn uống sai lầm . Vì vậy thực dưỡng chú trọng hướng dẫn chúng ta điều chỉnh lại cách ăn uống đúng quy luật nhờ đó cơ thể khỏe mạnh và tự chữa lành mọi bệnh tật.
Tùy theo nền văn hóa , và sự phát triển của y học mà mỗi mỗi dân tộc ở các khu vực khác nhau áp dụng một chế độ ăn uống hay một phương pháp thực dưỡng khác nhau .  Thông thường các dân tộc ở Phương Đông thì chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Phương Đông trong đó chủ yếu nhất là triết lý Âm , Dương . Vì vậy ở các nước này thường phân loại thực phẩm theo hướng như : thực phẩm có tính hàn , tính nhiệt hay tính bình ...Chúng ta vẫn thường hay nghe những câu nói như : dừa có tính hàn , hay ăn đồ chiên dễ bị nóng ....
Trong khi các nước phương Tây thì dựa trên nền tảng của những thành tựu về khoa học , đặc biệt là hóa học do đó các nhà Thực Dưỡng phương Tây  thường phân loại thực phẩm  dựa trên tính chất hóa học của chúng cụ thể là tính axit và tính kiềm. Theo đó tất cả các thực phẩm đều được phân loại về thực phẩm có tính axit hay thực phẩm có tính kiềm.
 Ngoài ra còn có những chế độ thực dưỡng khác cũng được nhiều người áp dụng : như ăn chay , ăn lạt , ăn thực phẩm 100% từ thiên nhiên không sử dụng bất kì hóa chất nào (Organic), và chế độ dinh dưỡng hiện đại cũng đang được nhiều người áp dụng…
Phương pháp thực dưỡng Ohsawa là gì ?
Phương pháp thực dưỡng Ohsawa hay nói gọn là phương pháp Ohsawa (tiếng anh là Macrobiotics ) - được  phát triển bởi giáo sư người Nhật có tên Sakurazawa Nyoichi (George Ohsawa) (1893-1966) - là phương pháp thực dưỡng được áp dụng nhiều nhất và đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận là một phương pháp phòng và chữa bệnh. 
 Sakurazawa Nyoichi (George Ohsawa) (1893-1966) người sáng lập ra phương pháp Ohsawa
Phương pháp  Ohsawa  ra đời dựa trên sự kết hợp giữa triết lý phương Đông và khái niệm Axit và Kiềm của phương Tây . Nền tảng của phương pháp Ohsawa dựa trên quy luật Âm Dương (Ohsawa gọi theo ngôn từ hiện đại là Vô Song Nguyên Lý)
Thực dưỡng ohsawa dựa trên nên tảng quy luật Âm Dương
Theo đó  các thực phẩm được chia thàng 2 dạng :  là Thực phẩm có tính Âm , Thực phẩm có tính Dương. Theo Ohsawa chúng ta nên ăn uống kết hợp các loại thực phẩm để tạo quân bình Âm Dương . Khi cơ thể đạt được trạng thái Quân bình Âm Dương thì nó sẽ khỏe mạnh, khang kiện và "tự chữa bệnh" mà không cần dùng bất cứ một loại thuốc nào cả . Không chỉ khỏe mạnh về thể xác mà tinh thần và trí phán đoán của con người trở nên sáng suốt hơn .
Lúc mới ra đời phương pháp này ít được nhiều người chú ý đến vì có lẽ ít ai tin là một cách thức ăn uống lại có thể chữa được bệnh . Một lý do nữa có lẽ tính chất ăn uống kiêng cữ quá mức nên không phù hợp với cách ăn uống theo thói quen của mọi người .
Tuy nhiên , sau sự kiện Mỹ ném hai quả bơm nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki  Phương pháp  Ohsawa đã trở nên nổi tiếng tại Nhật Bản. Tương truyền rằng sau khi 2 quả bom phát nổ , người ta phát hiện trong khi rất nhiều người dân ở vùng đó bị nhiễm phóng xạ thì các bệnh nhân đang điều trị bệnh tại khu Trung tâm điều trị bệnh theo phương pháp Ohsawa lại không hề bị nhiễm độc từ chất phóng xạ và sức khỏe vẫn ổn định.
Đến năm 1982, cả thế giới mới thực sự chú ý đến phương pháp này sau khi một số tờ báo có uy tín trên thế giới như tờ Paris Match ở Pháp, tờ Life ở Mỹ, tờ Atarashiki Sekaia ở Nhật đồng loạt đăng tải về trường hợp bác sĩ Anthony Sattilaro, giám đốc Bệnh viện Methodist, bang Philadelphia (Mỹ) đã chữa lành bệnh ung thư xương bằng cách ăn gạo lứt và muối mè theo phương pháp Ohsawa..
Phương pháp ohsawa lấy cốc loại nguyên cám và các loại hạt làm thức ăn chính vì cốc loại là loại thực phẩm dễ tạo  quân bình cho cơ thể . Ngoài ra chúng ta sử dụng thêm các loại rau củ khác với điều kiện tự nhiên , đúng mùa , không chứa chất hóa học 
Phương pháp ohsawa khuyên dùng từ 70-90% cốc loại nguyên cám trong khẩu phần  
Phương pháp Ohsawa được tiên sinh truyền bá ở Việt Nam năm 1963 và được gọi với tên bình dân là “gạo lức muối mè” vì nước ta thực phẩm thường được sử dụng trong các bữa ăn theo phương pháp này thường là gạo lứt và kèm theo muối mè . Vì vậy phương pháp này còn được nhiều người gọi là Ăn gạo lứt muối mè (ngoài bắc gọi là muối vừng). Cách gọi này tuy đơn giản nhưng chưa phản ánh đúng phương pháp và gây hiểu nhầm cho nhiều người là theo phương pháp ohsawa chỉ có ăn gạo lứt muối mè thôi là không đúng .